CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ VLC 1.1 Tổng quan về công nghệ VLC 1.1 Giới thiệu về công nghệ VLC Truyền thông bằng ánh sáng nhìn thấy – VLC là cái tên được đưa ra cho một hệ thống thông tin không dây mang thông tin bằng cách điều chế trong phổ ánh sáng nhìn thấy (400-700nm), dải phổ được sử dụng cho việc chiếu sáng. Các tín hiệu truyền thông tin được mã hóa bởi ánh sáng chiếu sáng.1 Dải phổ ánh sáng nhìn thấy (nguồn Internet) VLC ngày càng được quan tâm với việc sử dụng ánh sáng chiếu sáng cho truyền tin để tiết kiệm năng lượng bằng cách sử dụng sự chiếu sáng để mang thông tin sử dụng hạ tầng chiếu sáng có sẵn. Hơn nữa, công nghệ VLC thân thiện với môi trường so với công nghệ tần số vô tuyến. Sự phát triển thêm một công nghệ vô tuyến VLC là kết quả của nhu cầu ngày một lớn của việc kết nối không dây tốc độ cao.2 Lịch sử phát triển công nghệ VLC Nhiều năm trước, chúng ta thấy có nghiên cứu về VLC và ý tưởng sử dụng các LED cho cả việc chiếu sáng (illumination) và truyền tin (data communications).
4 Động lực chính cho công nghệ này bao gồm việc chiếu sáng bằng chất bán dẫn (solid-state lighting) ngày càng phổ biến, tuổi đời dài hơn của LED có độ sáng cao so với các nguồn ánh sáng nhân tạo khác như đèn dây tóc, tốc độ băng thông/dữ liệu cao, bảo mật dự liệu, an toàn sức khỏe, và tiết kiệm năng lượng. Khái niệm VLC như là một phương thức truyền thông tin được ra đời tư những năm 1870 khi Alexander Granham Bell mô tả thành công truyền dẫn của một tín hiệu âm thanh sử dụng một gương được tạo ra để dao động bởi âm thanh của một người. Mô tả thực tế đầu tiên của VLC, được gọi là máy phát âm thanh bằng ánh sáng (photophone), diễn ra vào năm 1880 sử dụng ánh sáng mặt trời như là một nguồn sáng. Bell và Tainer thành công trong việc truyền tin một cách rõ ràng qua khoảng cách khoảng 213 mét trong thí nghiệm máy phát âm thanh bằng ánh sáng.
Tuy nhiên, hệ thống của Bell có một vài nhược điểm như là nó phụ thuộc vào ánh sáng mặt trời, một loại ánh sáng bị gián đoạn. Sự phát triển về hiện tượng trong quang điện tử (optoelectronics), cụ thể là các nguồn sáng bán dẫn trong các thập kỉ qua dẫn đến sự nổi lên một lần nữa của truyền thông tin quang không dây. Ánh sáng bán dẫn là ánh sáng được tạo ra bởi sự phát quang điện. Những năm 1990, các LED độ sáng cao với mục đích chiếu sáng nói chung được giới thiệu.
Chỉ trong vài năm, hiệu quả chiếu sáng của LED được tăng lên nhanh chóng từ 0.1m/W tới hơn 230lm/W và với thời gian sống khá cao 100000 giờ. Bây giờ chúng ta có thể thấy có loại nguồn chiếu sáng mới khác như OLED (organic LED). OLED có hiệu quả chiếu sáng tương đối thấp khoảng 100lm/W và thời gian sống khá ngắn so với LED, do đó hạn chế các ứng dụng cho hiển thị màu sắc khác nhau và chiếu sáng nói chung ở hiện tại. Trái lại OLED lại là giải pháp thay thế cho chiếu sáng và truyền tin khu vực lớn.
So với các đèn chiếu sáng cổ điển với hiệu quả chiếu sáng bị giới hạn 52lm/W và đèn huỳnh sáng đỉnh của LED trắng vượt quá 260 lm/W, thấp hơn rất nhiều so với hiệu quả chiếu sáng dự đoán trong lý thuyết đạt tới 425 lm/W. Trong những năm tới, có những bằng chứng rõ ràng về việc tăng mức độ của chất lượng chiếu sáng của LED. Từ quan điểm nhìn môi trường, ánh sáng bán dẫn 5 (solid-state lighting -SSL) sẽ là một công nghệ cần thiết cho việc tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Công nghệ sử dụng ánh sáng bán dẫn có ưu điểm như sau: Tuổi đời thiết bị dài.
Chịu được độ ẩm cao. Không có thủy ngân. Kích thước nhỏ và gọn hơn. Hiệu quả biến đổi năng lượng cao hơn (với white LED hiệu quả chiếu sáng lớn hơn 200lm/W).
Tiêu thụ năng lượng thấp hơn. Chuyển mạch nhanh hơn. Vì lý do này mà LED ánh sáng trắng là các nguồn lý tưởng cho các ứng dụng trong tương lai ở cả trong nhà và ngoài trời cho hai mục đích chiếu sáng và truyền dữ liệu, do đó dẫn đến tiết kiệm năng lượng đáng kể trên toàn cầu. Với sự xuất hiện của LED ánh sáng trắng tạo bởi sự kết hợp của ba màu cơ bản đỏ, xanh lá cây và xanh da trời, hay bởi cách sử dụng máy phát ánh sáng xanh kết hợp với một huỳnh quang, các nghiên cứu và sự phát triển của hệ thống VLC trong nhà được thúc đẩy.
Các nguồn của VLC có công suất đầu ra quang cao và các đặc tính phát lớn để thực hiện cho việc chiếu sáng. Hơn nữa, các thiết bị này có đáp ứng kênh không dây riêng biệt, khác so với với truyền tin không dây hồng ngoại. Đầu tiên, VLC được bắt đầu ở phòng thí nghiệm Nakagawa ở đại học Kio ở Nhật năm 2003. Nghiên cứu này tiếp tục được theo đuổi và phát triển ở trên toàn thế giới.
Bằng cách đóng mạch và ngắt mạch LED ánh sáng trắng phổ lân quang (phosphorescent white LEDs) nhanh chóng, tốc độ dữ liệu lên tới 40Mbps dễ dàng được thực hiện. Sử dụng cùng kỹ thuật khóa đóng mở, tốc độ dữ liệu cao hơn vượt 100Mbps có thể đạt được với LED ánh sáng trắng RGB. Các LED hốc cộng hưởng có thể đạt được tốc độ dữ liệu vượt quá 500Mbps. Các LED cộng hưởng sử dụng các phản xạ Bragg, hoạt động như các gương để tăng ánh sáng được phát.
Thêm vào 6 đó, nó làm tăng độ trong suốt của phổ so với LED thường, do đó nâng cao khả năng truyền tin. Khái niệm về VLC được mô tả ở bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1.1 Lịch sử phát triển của VLC. Thời Sự kiện gian Công bố hệ thống LED truyền dẫn dữ liệu tốc độ cao trên thiết 2004 bị di động tại Nhật Bản. Thử nghiệm thực tế hệ thống truyền dẫn VLC tới điện thoại di động với tốc độ 10 kb/s và vài Mb/s sử dụng đèn huỳnh quang và LED tại 2005 Nhật Bản.
Thực hiện truyền dẫn VLC từ màn hình LCD sử dụng đèn nền 2007 LED tời thiết bị cầm tay, hãng tivi Fuji Nhật Bản. Hiệp hội VLC (VLCC) tại Nhật Bản đưa ra hai chuẩn: Tiêu chuẩn cho hệ thống định danh sử dụng ánh sáng và tiêu chuẩn cho hệ thống VLC. Hiệp hội công nghệ thông tin và điện tử Nhật Bản-JEITA đã chấp nhận 2007 các tiêu chuẩn này thông qua hai văn bản JEITA CP-1221 và JAITA CP-1222. Phát triển các tiêu chuẩn toàn cầu cho mạng gia đình sử dụng ánh sáng và tia hồng ngoại để truyền dẫn thông qua dự án OMEGA của EU.
Thực hiện truyền dẫn sử dụng 5 đèn LED 2008 với tốc độ ~100Mb/s. VLCC đã ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đầu tiên của họ trong 2009 đó xác định phổ tần số sử dụng VLC. Phát triển công nghệ VLC cho các thiết bị điện như TV, PC, 2010 điện thoại di động ở đại học Califinia, USA. Công bố hệ thống định vị toàn cầu GPS với môi trường trong nhà ở 2010 Nhật Bản.
Truyền dẫn với hệ thống VLC đạt tốc độ 500Mb/s với khoảng 2010 cách 5m, thực hiện bởi Siemen và viện Heinrich Het, Đức. 7 Phát triển tiêu chuẩn cho các công nghệ sử dụng VLC bởi 2010 IEEE. Trình diễn hệ thống truyền dẫn VLC-OFDM với tốc độ 124Mb/s, 2011 sử dụng LED trắng phủ phospho, đại học Edinburgh, Anh Giáo sư Harald Haas đã thực hiện truyền dữ liệu với tốc độ lên đến 1.6 2013 Gbps thông qua đèn LED đơn sắc - Công ty Stins Coman của Nga đã thực hiện một mạng nội bộ sử dụng VLC có tốc độ truyền dữ liệu lên đến 1.25 Gbit/s vào 04/2014 2015 - Axrtek đã sản xuất hệ thống VLC với LED RGB hai chiều với tên gọi thương mại là MOMO, có tốc độ 300 Mbit/s trong cự ly 25 feet vào 10/2014 Vào năm 2016 sản phẩm Li-1st của công ty PureLifi ra đời. Theo nhà sản xuất nói thì đây là sản phẩm đầu tiên ứng dụng công nghệ VLC 2016 được bán rộng rãi.
Li-1st hiện có thể mang lại tốc độ truyền tải 5Mbps cho cả kênh upload lẫn download, tương đương 625KB/s Vào năm 2017 công ty PureLifi cho ra sản phẩm LiFi-X bao gồm một 2017 thiết bị có đèn LED gắn vào cổng USB, cho tốc độ truyền nhận dữ liệu lên đến 42Mbps.3 Đặc điểm công nghệ VLC 1.1 Dung lượng Băng thông lớn: Phổ tần của sóng ánh sáng nhìn thấy ước tính lớn gấp 10000 lần so với phổ sóng vô tuyến và hoàn toàn miễn phí khi sử dụng. Mật độ dữ liệu: Công nghệ VLC có thể đạt được mật độ dữ liệu gấp 1000 lần so với WIFI bởi ánh sáng nhìn thấy không xuyên qua vật cản nên chỉ tập trung trong một không gian, trong khi sóng vô tuyến có xu hướng thoát ra ngoài và gây nhiễu. Tốc độ cao: công nghệ VLC có thể đạt được tốc độ cao nhờ vào nhiễu thấp, băng thông lớn và cường độ chiếu sáng lớn ở đầu ra. 8 Dễ dàng quản lý: việc quản lý trở nên khá dễ dàng do không gian chiếu sáng giới hạn, là ánh sáng nhìn thấy nên dễ dàng quản lý hơn so với sóng vô tuyến 1.2 Hiệu năng Chi phí thấp: Công nghệ VLC yêu cầu ít thành phần hơn so với công nghệ sử dụng sóng vô tuyến.
Sử dụng đèn LED để chiếu sáng có hiệu quả rất cao: tiêu thụ năng lượng thấp, hiệu quả chiếu sáng, giá thành tương đối rẻ và độ bền cao. Truyền thông dưới nước: Việc truyền thông tin dưới nước đối với sóng vô tuyến là rất khó khăn, nhưng đối với công nghệ VLC thì có thể thực hiện việc đó dễ dàng hơn.3 An toàn An toàn đối với sức khỏe con người. Việc truyền dẫn bằng sóng ánh sáng không gây nhiễu đối với máy bay, không gây nhiễu với các máy móc sử dụng trong bệnh viện. Không gây hại với sức khỏe con người 1.4 Bảo mật Vì truyền thông bằng sóng ánh sáng chỉ tập trung ở một khu vực nhất định, không thể đâm xuyên qua các vật thể nên sẽ rất khó để thu thập hay do thám các tín hiệu thông tin.
Không cần các phương pháp bảo mật phức tạp, do là ánh sáng nhìn thấy nên việc quản lý truyền dẫn thông tin vô cùng dễ dàng.