Chương I TỔNG QUAN I.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI I.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 1. Bản tin dự báo CLKK a. DBCLKK tại Mỹ Hình I-1 Trang web dự báo chất lượng không khí hàng ngày của Mỹ Trang web AIRNOW (http:airnow.gov/) do Cục Bảo vệ Môi trường và Cục Khí tượng và Đại dương Quốc gia (NOAA), các bang và các cơ quan liên quan của Mỹ xây dựng để cộng đồng dễ dàng truy cập được các thông tin CLKK của quốc gia. Trang web cung cấp các hiện trạng thời gian thực cũng như dự báo chỉ số CLKK (Air Quality Index – AQI) cho hơn 300 thành phố trên lãnh thổ nước Mỹ.
AQI là chỉ số cho CLKK hàng ngày thể hiện mức độ trong lành của không khí và mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi con người hít thờ trong vòng một vài giờ hay một vài ngày. AQI dựa trên 5 chất quy định bởi Luật Khí Sạch: Ozon mặt đất, bụi, CO, SO2, NO2. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường 3 Xây dựng bản tin dự báo chất lượng không khí cho các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam b. DBCLKK tại Anh Hình I-2 Trang web dự báo chất lượng không khí hàng ngày của Anh Tại Anh, dự báo ô nhiễm hàng ngày cho Ozon, NOx, SO2 đã được bắt đầu từ 1990.
Từ tháng 11/1997, CO2 và bụi PM10 được thêm vào thông tin dự báo. Hiện nay, đã có các dự báo riêng biệt về mức ô nhiễm cho nông thô, thành thị hay các xa lộ vì tại mỗi thời điểm chúng có những mức độ ô nhiễm khác nhau. Thông tin dự báo được dựa trên TV, đài, báo và Internet (http://airquality.uk/archive/uk_forecasting/apful_home. DBCLKK tại Úc Hình I-3 Trang web dự báo chất lượng không khí hàng ngày của Úc Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường 4 Xây dựng bản tin dự báo chất lượng không khí cho các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam Tại Úc, hệ thống DBCLKK (AAQFS) vào tháng 5/1988 nhằm mục đích trước mắt là phát triển, hiệu chỉnh và đánh giá độ chính xác của dự báo số trị (24 – 36 giờ) CLKK.
Về lâu dài, hệ thống sẽ có khả năng dự báo các tham số ô nhiễm hoặc các chỉ số liên quan tới sức khỏe của người dân cho các thành phố chính. Các mục tiêu cụ thể là: - Đưa ra bản tin dự báo CLKK (24 – 36 giờ) hai lần trong ngày: 9 giờ sáng và 3 giờ chiều - Dự báo NOx, Ozon, SO2, benzen, formaldehyde, và bụi PM10, PM2,5 - Độ phân dải của dự báo nhỏ để phân biệt sự khác nhau trong các quận của thành phố - Dự báo theo hai kịch bản: thông thường và phát thải sạch d. DBCLKK tại Trung Quốc Trung Quốc đã đưa ra thông báo CLKK hàng tuần từ năm 2000 và dự báo chất lượng môi trường không khí hàng ngày từ 5/6/2001 cho 47 thành phố lớn. Thông tin dự báo đưa trên TV các buổi tối bao gồm chỉ số ô nhiễm, các chất ô nhiễm và mức ô nhiễm.
Hiện nay, tất cả các thành phố chính trong 32 tỉnh và khu tự trị, các thành phố ven biển và khu du lịch đang được giám sát chặt chẽ về môi trường. Các chương trình này nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường. DBCLKK tại Đài Loan Hiện nay, Đài Loan đang phải đối mặt với các suy thoái môi trường do sự tác động của nhiều yếu tố: mật độ dân số, phương tiện giao thông, nhà máy xí nghiệp được xếp vào hàng cao nhất thế giới. Cục Bảo vệ Môi trường Đài Loan đã nghiên cứu, cung cấp bản tin DBCLKK từ năm 1992 nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng về CLKK.
Năm 1996 có bản tin dự báo M10,Ozon, chỉ số ô nhiễm. Bản tin DBCLKK được phát báo hàng ngày từ năm 1997. Những nghiên cứu ở khu vực Bắc Mỹ Để giải quyết các vấn đề về ô nhiễm không khí cũng như chia sẻ và trao đổi thông tin, Mỹ và Canada đã cùng nhau ký kết Thỏa thuận quản lý chất lượng không khí (Air Quality Agreement) vào năm 1991. Trong khuôn khổ của Thỏa thuận này, Mỹ và Canada cùng kiểm soát các nguồn mới hay sự thay đổi của các nguồn đang tồn tại mà có khả năng gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường.
Ngoài ra, họ cũng quan tâm đến các nguồn có khả năng gây ra ô nhiễm xuyên biên giới. Một loạt các trạm giám sát sự thay đổi chất lượng không khí cũng đã được lắp đặt dọc đường biên để đánh giá, nhận định về chất lượng không khí trong khu vực hai nước. Những nghiên cứu ở Châu Âu Các nước trong liên minh Châu Âu là những quốc gia đều tiên trên thế giới ký kết các công ước, các nghị định thư về ô nhiễm không khí và một chương trình giám Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường 5 Xây dựng bản tin dự báo chất lượng không khí cho các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam sát và đánh giá các chất ô nhiễm không khí có cự ly dài (EMEP) đã được thành lập. Mục tiêu của chương trình này là: cung cấp cho các Chính phủ Châu Âu thông tin về lắng đọng, nồng độ các chất ô nhiễm Bằng cả phương pháp đo đạc và mô hình, trong các nghiên cứu năm 2003, các nhà khoa học của EMEP đã chỉ ra rằng sự thay đổi của các yếu tố khí hậu có liên quan chặt chẽ đến sự biến đổi về nồng độ của các chất trong khí quyển, ví dụ như tại một số vùng Châu Âu như Pháp, bắc Tây Ban Nha, Thụy Sỹ và bắc Italia nhiệt độ mùa hè năm 2003 đã tăng lên 4 độ so với năm 2002 kèm theo đó là lượng mưa giảm đi.
Kết quả là nồng độ của ozone và các hạt vô cơ thứ cấp đã tăng lên đáng kể, như ở Thụy Sỹ nồng độ các hạt vô cơ thứ cấp đã tăng lên 60-80% so với năm trước. Trong nghiên cứu của Hilde Fagerli (2003), tác giả đã sử dụng phương pháp mô hình, cụ thể là mô hình EMEP Unified Model 2.0, để xác định xu hướng biến đổi của SO2 và NOx tại các quốc gia Châu Âu. Giá trị nồng độ của SO2 và NOx tăng lên trong những tháng mùa đông và giảm đi trong các tháng mùa hè, các giá trị này ở các nước Đông Âu lớn hơn so với các nước Bắc Âu. Hay theo Svetlana Tsyro (2003), các điều kiện địa hình ảnh hưởng đến nồng độ bụi dựa vào các phân tích hiện trạng ô nhiễm không khí, đặc biệt tại Tây, Trung và Nam Âu.
Dựa vào kết quả tính toán của mô hình EMEP photo-oxidant model phiên bản 2.3, có một xu hướng biến đổi rõ ràng của nồng độ ozone trong phạm vị hẹp, đặc biệt liên quan đến các nguồn đô thị và giao thông phát thải nhiều chất NOx (David Simpson, Jan Eiof Jonson và Hilde Fagerli, 2003). Còn theo Leonor Tarrasonsón và các cộng sự (2003) thì sự vận chuyển các chất ô nhiễm từ vùng này đến vùng khác, từ nước này đến nước khác phụ thuộc vào các điều kiện khí tượng và có sự thay đổi đáng kể từ năm này qua năm khác. Tác giả đã chỉ ra sự ảnh hưởng của điều kiện khí tượng đến sự tồn tại của các chất ô nhiễm trong khí quyển, từ nguồn phát thải được vận chuyển vào không khí, biến đổi hóa học và rơi xuống bởi mưa hoặc lắng đọng khô. Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường 6 Xây dựng bản tin dự báo chất lượng không khí cho các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam 4.
Những nghiên cứu ở Châu Á Hình I-4 Ảnh vệ tinh cho thấy sụ biến đổi và lan truyền của bụi trong khu vực châu Á trong vòng 7 ngày. Nhật Bản là quốc gia có rất nhiều những nghiên cứu, đánh giá về vấn đề ô nhiễm và lan truyền không khí. Trong nghiên cứu của Atsushi Ishii (2002) về Cơ sở khoa học và chính sách về ô nhiễm không khí khu vực Đông Á, tác giả đã sử dụng phương pháp mô hình (RAMS) để đánh giá và chỉ ra cơ chế vận chuyển, lan truyền của SO2/SO42. Trong năm 2000, Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB đã thực hiện một nghiên cứu liên quan đến ô nhiễm không khí trong khu vực Đống bắc Á, nhằm hỗ trợ các nước trong khu vực giải quyết vấn đề này.
Nghiên cứu này đặc biệt chú ý đến nguồn phát thải từ các nhà máy nhiệt điện sử dụng than đá. Theo thống kê, Trung Quốc là quốc gia khai thác và sử dụng nhiều than nhất trên thế giới. Hậu quả là, vấn đề ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng về quy mô và mức độ. Không chỉ Trung Quốc phải hứng chịu bầu không khí ô nhiễm do các quá trình đốt loại nhiên liệu hóa thạch này mà cả các nước lân cận cũng bị ảnh hưởng.
Trong một nghiên cứu của L.Chan (2005) về các chất ô nhiễm và ozone tầng đối lưu ở Trung Quốc, tác giả đã xác định sự phân bố của ozone theo chiều thẳng đứng trong khí quyển để hiểu được bản chất của quá trình, từ đó đưa ra biện Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường – Bộ Tài nguyên và Môi trường 7 Xây dựng bản tin dự báo chất lượng không khí cho các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam pháp kiểm soát hiệu quả đổi với ô nhiễm ozone. Bên cạnh đó, quá trình lan truyền các chất ô nhiễm, sự phát thải vào tầng đối lưu, các quá trình hóa học cũng được nghiên cứu. Trong một nghiên cứu khác của nhóm tác giả David D. Cohen, David Garton, Tao Wang, Jiyoung Kim và nnk (2002) về các đặc trưng của ô nhiễm bụi PM2,5 và PM10 tại một số nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, các khu vực lân cận Tây Bắc Trung Quốc và sa mạc Gobi bị ảnh hưởng rất nhiều.
Nồng độ bụi PM 2,5 đặc biệt cao vào các tháng 4, 9, 10.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về ô nhiễm không khí song nghiên cứu nhằm mục địch dự báo chất lượng không khí còn chưa có do những khó khăn chưa giải quyết được về mặt kỹ thuật. - Dự án nâng cao chất lượng không khí tại các nước đang phát triển Châu Á (AIRPET)" do trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên chủ trì. Đề tài này đã nghiên cứa đến việc xác định mức độ đóng góp ô nhiễm của các nguồn thải nhưng chưa làm rõ được cơ chế lan truyền. - Đề tài nghiên cứu độc lập cấp Nhà nước, 2000 - 2002 của TS.