mở đầu của quá trình mua lại, sát nhập, thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến nhiều hậu quả, mọi người sẽ mất lòng tin ở ngân hàng và việc huy động vốn của ngân hàng cũng sẽ gặp khó khăn. Rủi ro tín dụng không chỉ có ảnh hưởng đến phạm vi của một ngân hàng nào đó mà nó ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, đến thị trường tài chính, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Do đó việc quản lý để hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng là điều rất cần thiết trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng.3 Hạn chế rủi ro Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động của mỗi ngân hàng có sự tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống tài chính.
Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó, dù chỉ một ngân hàng và ở một mức nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ đến tính an toàn và tính ổn định của toàn hệ thống ngân hàng. Từ đó sẽ dẫn đến các chính sách tài chính cũng không còn phù hợp và hệ thống tài chính tiền tệ không còn được vững mạnh. Giảm uy tín trên thị trường tài chính thế giới. Vì lẽ đó mà các ngân hàng Trung ương đều quy định mọi ngân hàng phải tuân thủ quy trình phân tích rủi ro trong cho vay.3 Nội dung quản lí rủi ro tín dụng 1.1 Xác định và hạn chế các khoản tín dụng có vấn đề Những khoản tín dụng có vấn đề thường có các biểu hiện sau : - Trả nợ vay không đúng hạn - Thường xuyên sửa đổi thời hạn, xin gia hạn tín dụng - Lãi suất tín dụng cao bất thường ( để bù đắp rủi ro tín dụng ) - Tài khoản phải thu hay tồn kho tăng không bình thường - Tỷ lệ nợ / vốn chủ sở hữu tăng - Thất lạc hồ sơ tài chính,đặc biệt là báo cáo tài chính khách hàng - Chất lượng đảm bảo tín dụng thấp - Khách hàng dựa vào nguồn thu bất thường để trả nợ như bán nhà xưởng.
máy móc thiết bị… Ngân hàng căn cứ vào những dấu hiệu của khoản tín dụng, từ đó xác định tính chất của khoản vay nhằm đưa ra những phương án để quản lí khoản tín dụng đó. Nếu khoản tín dụng có dấu hiệu bất thường ( thường là một trong các nguyên nhân trên ),ngân hàng có thể kịp thời đưa ra biện pháp để xử lí như ngừng cấp tín dụng hoặc hạn chế khoản tín dụng đó, đưa vào giám sát đăc biệt.2 Phân loại, quản lí nợ Một trong những nội dung quan trọng của quản lí tín dụng ngân hàng chính là việc phân loại và quản lí nợ.Để đánh giá mức độ của rủi ro tín dụng, chúng ta phải phân tích được các chỉ tiêu dư nợ tín dụng. - Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Nợ quá hạn nói chung được xem như một dấu hiệu của một vấn đề rủi ro tiềm ẩn.
Để hiểu bản chất của khoản nợ quá hạn chúng ta phải tìm hiểu nguyên nhân của khoản nợ quá hạn đó bằng việc: cán bộ tín dụng kiểm tra các báo cáo tài chính, hồ sơ lưu trữ kho hàng, danh mục các khoản phải thu và các thông tin tài chính khác. Nếu nợ quá hạn là một biểu hiện của một doanh nghiệp không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có thể không cứu vãn được. Nếu việc nợ qúa hạn hình thành do việc tiêu thụ hàng hoá hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính, hoặc do việc chậm trễ không lường trước được trong việc vận chuyển hàng từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ. thì vấn đề có thể là chưa đến mức trầm trọng.
Nếu vào ngày đáo hạn người vay đưa ra yêu cầu giãn nợ hoặc xin vay tiếp mà không dự tính trước thí đó cũng có thể là một biểu hiện của việc phá vỡ thoả thuận hoàn trả và điều đó cũng nghiêm trọng giống như nợ quá hạn. Nếu Tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ dẫn đến chi phí tăng cao ngoài dự kiến, thậm chí là thua lỗ. Mặt khác nếu tỷ lệ nợ quá hạn,nợ xấu cao, gấp 2- 4 lần giới hạn an toàn của quốc tế không thực hiện đúng như các cam kết mở L/C, uy tín của hệ thống NHTM trong nước và quốc tế sẽ giảm sút nghiêm trọng. Hậu quả chung là các NHTM quốc doanh phải củng cố, cơ cấu lại, phải thành lập các công ty khai thác tài sản thế chấp.
- Nợ khó đòi và tỉ lệ nợ khó đòi trên tổng tài sản Nếu tỷ lệ nợ khó đòi chiểm tỷ trọng lớn trong các khoản nợ tín dụng thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng cao. Tuy nhiên một ngân hàng có thể có những cách định lượng các chỉ tiêu trên nhằm phản ánh sai lệch rủi ro, ví dụ như: giãn nợ, đảo nợ.Do đó một số ngân hàng phản ánh rủi ro tín dụng không chỉ bằng các chỉ tiêu trên mà quan trọng hơn bằng chỉ tiêu rủi ro tiềm năng: các khoản tín dụng có chất lượng trung bình và xấu trên tổng tín dụng. 13 Các chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản: Chi phí gia tăng để tìm nguồn mới để chi trả tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nếu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng nào mà lớn hơn 5% thì ngân hàng đó được xem là có chất lượng tín dụng kém. Tuy nhiên, có trường hợp tỷ lệ nợ quá hạn ở dưới mức cho phép song vẫn không được đánh giá là tốt nếu trong số nợ quá hạn đó, nợ quá hạn không có khả năng thu hồi chiếm tỷ trọng lớn hơn hoặc giá trị tài sản thế chấp không đủ để thu hồi nợ. Bên cạnh đó, ngân hàng cần phải thực hiện nghiêm túc các qui định về an toàn tín dụng ghi trong luật các tổ chức tín dụng,xác định các khoản tài trợ với các mức độ rủi ro khác nhau nhằm hạn chế tối đa rủi ro mà vẫn đảm bảo lợi nhuận.Các ngân hàng cũng có thể có các biện pháp,các chính sách hỗ trợ khách hàng tăng trả nợ,hoặc có các biện pháp xử lí tài sản đảm bảo,tài sản cầm cố nhằm thu hồi nợ.3 Sử dụng các công cụ, các chỉ tiêu phân tích đánh giá nhằm đưa ra các dự báo Trước khi ngân hàng quyết định cho khách hàng vay vốn thì ngân hàng phải có phương pháp để thu thập và xử lý thông tin về khách hàng của mình. Sau đó xem xét và phân tích hồ sơ tín dụng có phù hợp hay không.
Để biết được khách hàng có đủ năng lực để trả nợ trong tương lai thì ngân hàng cần phải phân tích tình hình tài chính của khách hàng và phương án sử dụng vốn có đúng như trong hồ sơ vay vốn hay không. Việc phân tích tình hình tài chính của khách hàng là yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định đến chất lượng tín dụng của ngân hàng và yếu tố rủi ro trong hoạt động tín dụng. Ngân hàng đọc và phân tích bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp cần vay vốn để có thể phản ánh một cách tổng quát tình hình tài sản, vốn, nguồn vốn, công nợ tại thời điểm lập báo cáo. Về mặt pháp lý, số liệu ở phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với người cho vay về các khoản nợ phải trả.
Tiếp đến là phân tích bảng báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, số liệu trong báo cáo này cung cấp những thông tin tổng hợp nhất về phương thức kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ và chỉ ra rằng, các hoạt động kinh doanh đó có đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp hay gây tình trạng lỗ vốn, 14 đồng thời nó cũng phản ánh tình hình sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu về tài chính của doanh nghiệp có thoả mãn điều kiện nhất định thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó mới có thể đảm bảo rằng việc vay vốn là đúng mục đích kinh doanh và sử dụng vốn có hiệu quả. Nhằm đánh giá và dự báo mức độ rủi ro của khoản tín dụng,ngân hàng có thể dựa vào các chỉ tiêu như : - Nhóm chỉ tiêu thanh khoản : + Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn.
Nợ ngắn hạn là các khoản nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành tiền. Trong tổng số tài sản mà hiện doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng và sở hữu, chỉ có tài sản lưu động (TSLĐ) trong kỳ là có khả năng chuyển đổi thành tiền. Do đó hệ số thanh toán tạm thời được xác định theo công thức: Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn / Tổng nợ ngắn hạn (1) Hệ số này phải lớn hơn 1, càng lớn thì càng tốt + Hệ số khả năng thanh toán nhanh: TSLĐ trước khi mang đi thanh toán cho chủ nợ đều phải chuyển đổi thành tiền. Trong TSLĐ hiện có thì vật tư, hàng hoá chưa thể chuyển đổi thành tiền ngay được, do đó nó có khả năng thanh toán kém nhất.
Vì vậy hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc phải bỏ các loại vật tư hàng hoá và được xác định theo công thức: Khả năng thanh toán nhanh = TSLĐ và đầu tư ngắn hạn - Hàng tồn kho / Tổng nợ ngắn hạn (2) 15 Hệ số này càng lớn thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng cao. + Hệ số thanh toán nợ dài hạn: Khả năng thanh toán nợ dài hạn = Giá trị còn lại của TSCĐ được hình thành từ vốn vay / Tổng nợ ngắn hạn (3) -Nhóm chỉ tiêu hoạt động Nhóm chỉ tiêu hoạt động đo lường mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp.