CHƯƠNG 1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 1. Giới thiệu chung về dịch vụ ngân hàng điện tử 1.1 Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Theo khoản 6 và khoản 10 điều 4 Luật giao dịch điện tử được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Căn cứ quy định nêu trên, giao dịch mua hàng tại quầy và thanh toán bằng thẻ tín dụng, tức quẹt thẻ vào máy bán hàng để tự động in ra sao kê thẻ và hóa đơn bán hàng thì được xem là giao dịch điện tử vì thẻ tín dụng là phương tiện điện tử. Nhận thấy khái niệm giao dịch điện tử không chỉ giới hạn trong phạm vi mạng Internet và các mạng thông tin khác, mà còn mở rộng ra đối với tất cả các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Do đó, giao dịch điện tử trong dịch vụ ngân hàng là giao dịch bằng phương tiện điện tử trong dịch vụ ngân hàng, nói cách khác là dịch vụ ngân hàng được giao dịch bằng phương tiện điện tử (gọi tắt là “dịch vụ ngân hàng điện tử”). Như vậy có thể hiểu rằng dịch vụ NHĐT là dịch vụ của ngân hàng cho phép khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán; tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại ngân hàng; và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới.
Theo cách hiểu này, dịch vụ NHĐT chính là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch vụ ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với ngân hàng.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp nên cũng mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng. 8 Thứ nhất dịch vụ ngân hàng điện tử mang tính vô hình. Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt dịch vụ ngân hàng với các sản phẩm của ngành sản xuất khác. Dịch vụ của ngân hàng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể vì vậy khi khách hàng mua dịch vụ không thể sờ nắm đựơc.
Khách hàng tiếp nhận và tiêu dùng dịch vụ ngân hàng thông qua hoạt động giao tiếp, tiếp nhận thông tin và kết quả là nhu cầu được đáp ứng. Khách hàng thường gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định lựa chọn. Khách hàng chỉ có thể kiểm tra và xác định chất lượng sản phẩm dịch vụ trong khi sử dụng. Do đặc tính vô hình nên trong kinh doanh ngân hàng phải lựa chọn trên cơ sở lòng tin.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ như địa điểm giao dịch, mức độ trang bị công nghệ, uy tín của ngân hàng. Thứ hai dịch vụ ngân hàng điện tử mang tính không thể tách rời. Thực tế cho thấy, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Quá trình cung cấp và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ ngân hàng xảy ra đồng thời, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng sản phẩm.
Mặt khác, quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng thường đựơc tiến hành theo quy trình nhất định không thể chia cắt ra thành các thành phẩm khác nhau. Điều đó làm cho ngân hàng không có sản phẩm dở dang, dự trữ lưu kho, mà sản phẩm được cung ứng trực tiếp cho người tiêu dùng khi và chỉ khi khách hàng có nhu cầu. Quá trình cung ứng diễn ra đồng thời với quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Các ngân hàng càng cố gắng nghiên cứu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng thì sẽ càng thu hẹp khoảng cách giữa việc cung ứng và tiêu dùng.
Thứ ba dịch vụ ngân hàng điện tử mang tính không ổn định và khó xác định. Dịch vụ ngân hàng là một loại hình dịch vụ tài chính nên chịu nhiều tác động từ các yếu tố của môi trường kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xư hướng hội nhập thì sự biến động các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh càng lớn và rất khó có thể lường trước. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như trình độ đội ngũ nhân viên, kỹ thuật công nghệ và 9 khoa học.
Chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả về yếu tố khách quan như trình độ thụ hưởng dịch vụ của ngân hàng, thói quen đến các yếu tố chủ quan thuộc về ngân hàng. Do vậy có thể nói dịch vụ ngân hàng là loại dịch vụ có tính không ổn định và khó xác định khối lượng chính xác. Đồng thời sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn được thực hiện ở không gian và thời gian khác nhau nên đã tạo ra tính không đồng nhất về thời gian, cách thức và điều kiện thực hiện. Tuy nhiên dịch vụ ngân hàng điện tử cũng có một số nét đặc trưng cơ bản khác biệt so với dịch vụ ngân hàng nói chung.
Đó chính là công nghệ hiện đại ứng dụng trong nó và nhiều tiện ích mới do dịch vụ mang lại. Dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời khi khoa học công nghệ thông tin bắt đầu phát triển. Vậy nên dịch vụ ngân hàng hiện đại chứa đựng hàm lượng công nghệ cao đòi hỏi phải có sự phát triển của công nghệ thông tin một cách tương ứng, cần phải có máy móc thiết bị hiện đại hỗ trợ. So với dịch vụ ngân hàng truyền thống, thì dịch vụ ngân hàng điện tử tập trung vào chức năng giao dịch và thông tin trên trang web ngân hàng, hay qua điện thoại cầm tay nhiều hơn là hoạt động phục vụ trực tiếp của nhân viên ngân hàng.
Đây là yếu tố liên quan tới những chức năng mang tính chất kỹ thuật hiện đại. Dịch vụ NHĐT có tính tập trung hoá cao thể hiện ở việc tập trung hoá các tài khoản. Khách hàng chỉ phải mở một tài khoản tại ngân hàng để sử dụng đựơc nhiều dịch vụ ngân hàng. Việc tập trung hoá tài khoản giúp khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại một cách tiện lợi, có thể giao dịch tại nhiều địa điểm khác nhau, giảm thời gian và chi phí giao dịch.
Điểm đặc biệt nữa của dịch vụ ngân hàng điện tử là có thể cung cấp dịch vụ trọn gói. Theo đó các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính khác để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng căn bản các nhu cầu của một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng về các dịch vụ liên quan tới ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán.3 Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử Có thể nói, NHĐT có vai trò vô cùng to lớn trong hệ thống NHTM. Nó tác động đến các ngân hàng, thúc đẩy các ngân hàng tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao cả về số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để tạo ra lợi thế cạnh tranh để tăng uy tín cũng như phát triển thương hiệu cho ngân hàng. NHĐT đang tác động xúc tiến đến việc hợp nhất, sáp nhập, hình thành các ngân hàng với quy mô lớn hơn, nâng cao nguồn lực tài chính nhằm trang bị đầy đủ công nghệ thông tin hiện đại cũng như đầu tư để tránh rủi ro trong ngành công nghệ thông tin, để nâng cao sức cạnh tranh và giành lợi thế về mình.
Mặt khác, NHĐT cũng đẩy mạnh việc hợp tác toàn diện giữa các NHTM ngày càng chặt chẽ và đa dạng hơn, rộng khắp trong cả nước và trên toàn thế giới… để thiết lập các đề án phát triển kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ mới, sử dụng mạng lưới thanh toán điện tử, tư vấn pháp luật, thông tin rủi ro, lập quỹ bảo toàn tiền gửi, kiểm toán phòng ngừa, xây dựng các chương trình đồng tài trợ, lập chương trình phối hợp đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, kể cả các hình thức hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ và văn hóa xã hội… Khi xã hội càng phát triển cao thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cuộc sống và nhu cầu sử dụng các dịch vụ NHĐT sẽ càng cao. Các sản phẩm và tiện ích NHĐT được phát triển và sử dụng rộng rãi ở các nước cho thấy dịch vụ NHĐT là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cho việc đa dạng hóa tiện ích dịch vụ và sản phẩm ngân hàng theo phong cách hiện đại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của một NHTM trong thời đại ngày nay. Thêm vào đó, dựa trên tình hình thị trường ngân hàng hiện nay, một trong các mục tiêu mà các NHTM hướng đến đó là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu. Cho nên các ngân hàng luôn chú trọng phát triển các dịch vụ thanh toán điện tử.
Điều này sẽ giúp quá trình chu chuyển vốn nhanh hơn cũng như đáp ứng tốt hơn các nhu cầu thanh toán của nền kinh tế, do đó luồng tiền chảy vào ngân hàng sẽ gia tăng và tác động tới cơ cấu tiền lưu thông trong nền kinh tế. Mặt khác, do tập trung quản lý dữ liệu nên thông qua việc cung cấp dịch vụ NHĐT, các NHTM 11 có thể kiểm soát tốt hơn chu chuyển tiền tệ, hạn chế các hoạt động phi pháp như rửa tiền, chuyển tiền bất hợp pháp… Việc phát triển dịch vụ thanh toán điện tử tiên tiến làm cho luồng tiền lưu thông trong xã hội chảy vào các ngân hàng được điều hoà hơn, từ đó làm thay đổi cơ cấu dòng tiền trong lưu thông, nền kinh tế ít sử dụng tiền mặt mà thay vào đó là chuyển khoản. NHĐT khai thác thế mạnh của công nghệ thông tin và viễn thông sẽ tạo ra các phương tiện giao tiếp mới giữa ngân hàng và khách hàng được đa dạng và thuận tiện hơn, dần thay thế bổ sung cho các phương tiện giao tiếp truyền thống trước đây.