Chương I: Tổng quan về mạng không dây Nội dung chương này là tìm hiểu tổng quan một số nội dung về mạng không dây, bao gồm các nội dung chính: Lịch sử phát triển mạng không dây; mạng truyền thông vô tuyến và LAN vô tuyến; các tiêu chuẩn mạng không dây hiện nay; vai trò và nhược điểm của mạng không dây. - Chương II: Hiện trạng mạng không dây công cộng tại Phú Quốc Nội dung chương này sẽ tập trung nghiên cứu hiện trạng triển khai mạng không dây công cộng tại phú quốc, bao gồm các nội dung chính: Đánh giá nhu cầu truy cập mạng không dây công cộng thông qua kết quả khảo sát thực địa; mô hình và giải pháp triển khai hệ thống; nghiên cứu, đánh giá các tồn tại, hạn chế của hệ thống hiện tại đã triển khai. - Chương III: Giải phái tối ưu mạng không dây công cộng tại Phú Quốc Trên cơ sở hiện trạng triển khai và kết quả nghiên cứu các tồn tại, hạn chế của hệ thống, nội dung chương này sẽ đề xuất một số nội dung, giải pháp để tối ưu hệ thống hiện tại, bao gồm các nội dung chính: Mô hình đề xuất triển khai, tối ưu; mô tả giải pháp triển khai; đề xuất một số nội dung tối ưu về cấu hình thiết bị, nâng cấp đường truyền, thiết bị. TỔNG QUAN VỀ MẠNG KHÔNG DÂY 1.1 Lịch sử phát triển Trong khi việc nối mạng Ethernet (Ethernet là một họ lớn và đa dạng gồm các công nghệ mạng dựa trên khung dữ liệu (frame-based) dành cho mạng LAN) hữu tuyến đã diễn ra từ hơn 30 năm trở lại đây thì nối mạng không dây vẫn còn là tương đối mới đối với thị trường Internet.
Trên thực tế, chuẩn không dây được sử dụng rộng rãi đầu tiên 802.11b, đã được Viện kỹ thuật điện và điện tử Mỹ IEEE (Institue of Electric and Electronic Engineers) phê chuẩn 22 năm trước đây (năm 1999). Vào thời điểm đó, phần cứng nối mạng không dây còn rất đắt và chỉ những công ty giàu có và có nhu cầu bức thiết mới có đủ khả năng để nối mạng không dây. Một điểm truy nhập (hay trạm cơ sở - Access Point), hoạt động như một cầu nối giữa mạng hữu tuyến và mạng không dây, có giá khoảng 1.000 đô la Mỹ vào thời điểm năm 1999, trong khi các card không dây máy khách giành cho các máy tính xách tay có giá khoảng 300 đô la. Vậy mà bây giờ bạn chỉ phải trả 55 đô la cho một điểm truy nhập cơ sở và 30 đô la cho một card máy khách 802.11b và đó là lý do tại sao mà việc nối mạng không dây lại đang được mọi người ưa chuộng đến vậy.
Rất nhiều máy tính xách tay, thậm chí cả những máy thuộc loại cấu hình thấp bây giờ cũng có sẵn card mạng không dây được tích hợp, vì vậy bạn không cần phải mua một card máy trạm nữa. Mạng không dây là cả một quá trình phát triển dài, giống như nhiều công nghệ khác, công nghệ mạng không dây là do phía quân đội triển khai đầu tiên. Quân đội cần một phương tiện đơn giản, dễ dàng và phương pháp bảo mật của sự trao đổi dữ liệu trong hoàn cảnh chiến tranh. Khi giá của công nghệ không dây và chất lượng tăng, nó trở thành nguồn kinh doanh sinh lãi cho nhiều công ty trong việc phát triển các đoạn mạng 5 không dây trong toàn hệ thống mạng.
Công nghệ không dây mở ra một hướng đi tương đối rẻ trong việc kết nối giữa các trường đại học với nhau thông qua mạng không dây chứ không cần đi dây như trước đây. Ngày nay, giá của công nghệ không dây đã rẻ hơn rất nhiều, có đủ khả năng để thực thi đoạn mạng không dây trong toàn mạng, nếu chuyển hoàn toàn qua sử dụng mạng không dây, sẽ tiết kiệm thời gian và tiền bạc của công ty.1 Mô hình Mạng không dây Đối với người dùng internet, mạng không dây vẫn còn là một công nghệ mới mẻ. Bây giờ nhiều người đã tạo cho mình những mạng không dây mang lại thuận lợi trong công việc, trong văn phòng hoặc giải trí tại nhà. Khi công nghệ mạng không dây được cải thiện, giá của sự sản xuất phần cứng cũng theo đó hạ thấp giá thành và số lượng cài đặt mạng không dây sẽ tiếp tục tăng.
Những chuẩn riêng của mạng không dây sẽ tăng về khả năng thao tác giữa các phần và tương thích cũng sẽ cải thiện đáng kể. Khi có nhiều người sử dụng mạng không dây, sự không tương thích sẽ làm cho mạng không dây trở nên vô dụng, và sự thiếu thao tác giữa các phần sẽ gây cản trở trong việc nối kết giữa mạng công ty với các mạng khác.2 Mạng không dây Mạng không dây truyền các tín hiệu qua không trung và không gian sử dụng radio, microwave và các tần số hồng ngoại trong khoảng megacycle/giây và kilomegacycle/giây. Các kỹ thuật truyền vô tuyến khác cũng có thể thực hiện, như các hệ thống laser point-to-point, nhưng các hệ thống này không phổ biến như các hệ thống radio, microwave. Có ba loại truyền thông vô tuyến cơ bản là: - Mạng di động không dây (Wireless mobile communications): Truyền sóng vô tuyến qua các tiện ích công cộng sử dụng packet- radio, các mạng cel- lular và các trạm vệ tinh đối với các người sử dụng làm việc bên ngoài văn phòng hay làm việc ngay trên lộ trình của họ.2 Mạng di động không dây 7 - Mạng nội bộ không dây (Wireless LAN communication): Truyền sóng vô tuyến kết nối mạng trong một khu vực nội bộ như một trụ sở công ty hoặc trong căn hộ thông qua thiết bị phát sóng wifi.3: Mạng nội bộ không dây - Cầu nối không dây và liên mạng (Wireless bridging and internet work- ing) Truyền sóng vô tuyến được sử dụng để kết nối các tòa nhà và các phương tiện trong các khuôn viên trường sở, các khu vực trung tâm, hay các văn phòng ở các vị trí khác trên hành tinh này (sử dụng vệ tinh).4: Cầu nối vô tuyến và liên mạng 1.1 Mạng di động không dây (Wireless Mobile Communications) Mạng di động không dây được sử dụng để giữ mối liên lạc giữa những người kinh doanh thường xuyên di chuyển, các trao đổi phân phối, các kỹ thuật viên dã chiến, và các đối tượng khác.
Những người dùng máy tính di động sử dụng truyền thông vô tuyến để kết nối với các mạng các cơ sở dữ liệu truy vấn , trao đổi thư điện tử, truyền tập tin và thậm chí tham gia xử lý cộng tác. Tất cả đều được thực hiện bằng các máy tính xách tay, PDA (personal digital assis- tants) và các thiết bị truyền thông vô tuyến nhỏ khác nhau. Những người dùng 9 cũng sẽ kết nối Internet thông qua các thiết bị này và một ngôn ngữ đặc biệt được gọi là HDML (Hand-held Device Markup Language) được sáng tạo cho mục đích này. Các nhà cung cấp hệ điều hành quan tâm đến những ai dùng di động bằng cách xây dựng các đặc tính mới để theo dõi vị trí của người sử dụng di động và duy trì môi trường từ session này sang session khác.
Ví dụ, vì người dùng di động di chuyển từ nơi này sang nơi khác, người đó sẽ thường xuyên ngưng kết nối và sẽ kết nối lại với các hệ thống từ xa. Hệ điều hành có thể tự động phục hồi các kết nối vào desktop của session trước đó. Nếu một người nào đó truy xuất vào một cơ sở dữ liệu, thì các truy vấn trước đó tới cơ sở dữ liệu này sẽ chờ đợi họ trong lần kết nối tới. Những PDA thường sử dụng các giao diện xa lạ đối với hầu hết các hệ điều hành mạng và các ứng dụng.
Tuy nhiên, các nhà sản xuất sẽ tích hợp tất cả các hệ thống này khi số lượng những người dùng di động gia tăng. Về bản chất, việc xử lý di động có liên quan đến những bộ tải điện thoại và các nhà cung cấp dịch vụ khác. Những người dùng chắc chắn sẽ quan tâm mức độ truy xuất (khoảng cách và tính thông suốt của tín hiệu), tốc độ truyền dữ liệu tiềm năng, và các khả năng lưu trữ và chuyển đi cho phép người dùng lấy các thông điệp khi họ quay lại trong phạm vi cho phép. Các đề mục sau đây mô tả các truyền thông vô tuyến cho các người dùng di động: - AMPS (Advanced Mobile Phone service): Mô tả hệ thống điện thoại cellular chuyển mạch vòng tín hiệu tương tự (analog) đầu tiên.
- CDPD (Cellular Digital Packet Data): Mô tả cách đóng gói và tải dữ liệu trên các hệ thống sóng vô tuyến cellular analog đang có, ví dụ AMPS. - Cellular Communication Systems: Thảo luận sự khác nhau giữa các hệ thống analog và hệ thống số. 10 - GMS (Global system for Mobile Communications): Mô tả hệ thống cel- lular sử dụng kỹ thuật số hoàn toàn được khai triển khắp thế giới. - Mobile Computing: Mô tả các kỹ thuật xử lý di động.
- Packet-Radio Communications: Mô tả các dịch vụ do các trung tâm dịch vụ truyền thông quốc gia đưa ra như ARDIS (Advanced National Radio Data Service) và RAM Mobile Data. - PCS (Personal Communications Services): Mô tả cách các dịch vụ GSM được khai triển ở Mỹ. - Các hệ thống kỹ thuật số sử dụng một cơ chế truyền tải riêng để chuyển thông tin giữa những người dùng di động và trạm làm việc cơ sở. Sau đây là hai cơ chế truyền tải chính : + CDMA (Code Division Multiple Access): CDMA sử dụng các kỹ thuật quang phổ dải rộng, trong đó, các bit dữ liệu ở mỗi lần trao đổi được mã hóa và truyền đồng thời với các lần trao đổi khác.
Đoạn mã giúp cho mỗi bộ tiếp nhận truy xuất các bit có nghĩa đối với chính mình. Dữ liệu đã mã hóa được truyền đi trong một tín hiệu băng tần rất rộng, mà những ai muốn nghe trộm khó có thể nghe được [2]. Trong các hệ thống CDMA, mỗi thời bit được chia nhỏ thành m khoảng thời gian ngắn gọi là chip. Lý tưởng là có 64 hay 128 chip một bit.
Mỗi trạm được gán một mã m- bit duy nhất gọi là dãy bit (chip sequence). Để truyền một bit 1, một trạm chuyển dãy bit của mình. Muốn truyền một bit 0, nó gửi bù 1 của dãy chip. Không có khuôn nào khác, vậy giả sử với m = 8, nếu trạm A được gán dãy chip 00011011, nó gửi một bit 1 bằng cách gửi tổ hợp bit 00011011 và gửi bit 0 bằng tổ hợp bit 111001100 [2].
Tăng lượng thông tin được gửi từ b bit/s thành mb chip/s chỉ thực hiện được nếu băng thông tăng theo hệ số m, làm CDMA thành một dạng truyền thông phổ trải rộng. 11 CDMA đặc biệt được dùng với các hệ thống radio trải phổ.