Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 6,81% vào năm 2017, hệ thống truyền thông đại chúng chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ với 67 Đài Phát thanh - Truyền hình và 281 kênh truyền hình trên cả nước. Đi kèm với sự phát triển này là lộ trình tinh giản biên chế và giảm bao cấp từ ngân sách nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Thực tế cho thấy các đài truyền hình địa phương đang đối mặt với bài toán nan giải về nguồn lực tài chính. Đơn cử như tại Đài Phát thanh và Truyền hình Thái Bình, năm 2017 nguồn ngân sách nhà nước cấp chỉ đạt khoảng 7 tỷ đồng, con số này chỉ vừa đủ chi trả tiền lương cho đội ngũ 120 cán bộ nhân viên, trong khi mọi chi phí trang thiết bị kỹ thuật và sản xuất chương trình đều phải tự cân đối.

Trước thách thức sống còn đó, việc huy động các nguồn lực ngoài nhà nước thông qua xã hội hóa trở thành xu thế tất yếu. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại các Đài Phát thanh và Truyền hình khu vực đồng bằng sông Hồng, phân tích trường hợp cụ thể tại 3 tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2018.

Mục tiêu nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu và hạn chế, chỉ rõ nguyên nhân của các bất cập, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng liên kết sản xuất. Đề tài mang ý nghĩa quan trọng khi cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp các đài truyền hình địa phương thực hiện hiệu quả định mức tự sản xuất 70% và tối ưu hóa 30% thời lượng liên kết xã hội hóa theo đúng định hướng quy hoạch phát triển báo chí quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, kết hợp lý thuyết kinh tế truyền thông và lý thuyết huy động nguồn lực xã hội. Nghiên cứu tiếp cận và chuẩn hóa 3 khái niệm cốt lõi:

Thứ nhất, xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình huy động tổng thể các nguồn lực sáng tạo, vật lực, nhân lực và tài lực từ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân ngoài cơ quan truyền hình tham gia vào một hoặc toàn bộ quy trình sản xuất nhằm tạo ra các tác phẩm phát sóng chất lượng cao.

Thứ hai, chương trình truyền hình là đơn vị phát sóng hoàn chỉnh về nội dung, hình thức và thời lượng, được bố trí trên một khung giờ cố định nhằm thực hiện chức năng thông tin, giáo dục và giải trí.

Thứ ba, liên kết sản xuất truyền hình là quan hệ hợp tác công - tư giữa đơn vị có giấy phép phát sóng và đối tác bên ngoài dựa trên cơ chế hợp đồng pháp lý, tuân thủ các quy định tại Điều 37 Luật Báo chí năm 2016 và Điều 16 Nghị định 06/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Hệ thống pháp lý nền tảng soi chiếu nghiên cứu gồm Nghị quyết số 05/2005/NĐ-CP, Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông, Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2017, Quyết định số 1431/QĐ-TTg năm 2018 và Quyết định số 362/QĐ-TTg năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

Về phương pháp nghiên cứu tài liệu và thực chứng: Tác giả tiến hành khảo sát và phân tích toàn bộ hồ sơ sản xuất, khung phát sóng của hơn 100 chương trình xã hội hóa phát sóng tại 3 đài Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình trong giai đoạn từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2018.

Về phương pháp điều tra xã hội học: Luận văn thực hiện phỏng vấn sâu đối với 25 đối tượng chuyên gia, bao gồm lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông, Ban Giám đốc các Đài, các biên tập viên kỳ cựu và đại diện các doanh nghiệp tài trợ. Đồng thời, tác giả triển khai điều tra bằng bảng hỏi đối với công chúng với cỡ mẫu 450 phiếu (mỗi tỉnh 150 phiếu) theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo độ tuổi và nghề nghiệp nhằm đo lường mức độ tiếp nhận và đánh giá chất lượng các chương trình xã hội hóa.

Về phương pháp điền dã phối hợp tác nghiệp: Tác giả trực tiếp tham gia vào các khâu tổ chức sản xuất tiền kỳ và hậu kỳ tại hiện trường để nắm bắt tường tận quy trình phối hợp thực tế giữa nhà đài và đối tác.

Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm kết hợp giữa dữ liệu thống kê khách quan với trải nghiệm thực tế nghề nghiệp, giúp các đánh giá không dừng lại ở lý thuyết trừu tượng mà phản ánh đúng thực trạng vận hành truyền hình cấp tỉnh. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khung thời gian nghiên cứu 18 tháng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế tại các đài phát thanh truyền hình khu vực đồng bằng sông Hồng mang lại 3 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, thời lượng phát sóng có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng tỷ lệ tự sản xuất còn ở mức thấp. Thời lượng phát sóng bình quân của các đài tăng mạnh từ mức 10 đến 15 giờ/ngày năm 2015 lên 18 đến 19 giờ/ngày năm 2017 (Đài Phát thanh và Truyền hình Nam Định phát sóng 24/7, Đài Thái Bình đạt 18 giờ/ngày, Đài Ninh Bình đạt 10 giờ tự sản xuất). Tuy nhiên, năng lực tự sản xuất của các đài địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 15% đến 25% tổng thời lượng phát sóng mỗi ngày.

Thứ hai, cơ cấu nội dung và nguồn thu quảng cáo có sự phân hóa và mất cân đối rõ rệt. Thể loại phim truyện chiếm tỷ trọng rất cao từ 39,88% đến 41,13% tổng thời lượng phát sóng (Đài Ninh Bình là 41,13%, Đài Thái Bình là 40,66%, Đài Nam Định là 39,88%), trong đó trên 50% là phim nước ngoài. Khảo sát doanh thu cho thấy 38% thời lượng sóng dành cho phim dài tập chỉ mang lại 6% doanh thu quảng cáo; ngược lại, thể loại trò chơi truyền hình chỉ chiếm 6% thời lượng phát sóng nhưng lại đóng góp tới 19% tổng doanh thu quảng cáo của các kênh.

Thứ ba, quy mô và hình thức xã hội hóa đang mở rộng nhanh chóng nhưng chủ yếu ở dạng tài trợ và liên kết từng phần. Thời lượng các chương trình có yếu tố xã hội hóa trên kênh quảng bá chiếm khoảng 25% đến 30% tổng thời lượng sản xuất mới. Khu vực phía Bắc đã có khoảng 20 công ty truyền thông lớn hoạt động thường xuyên, kết hợp cùng hàng chục doanh nghiệp địa phương như Công ty Cổ phần Giống cây trồng Thái Bình, Công ty Cổ phần Vận tải Hoàng Hà, Công ty Cổ phần Dịch vụ Dầu khí Thái Bình tham gia đầu tư vào các chương trình trọng điểm như Nhịp cầu nhà nông, An toàn giao thông, Sân chơi văn hóa làng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh áp lực tự chủ tài chính gay gắt tại các địa phương. Với quy mô dân số đông đúc tại vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích 15.000 km2 và mức thu nhập bình quân đầu người năm 2017 đạt trên 34 triệu đồng/năm, nhu cầu tiếp nhận thông tin giải trí của công chúng ngày một cao. Tuy nhiên, việc phụ thuộc vào hơn 40% thời lượng phim truyện phát sóng chứng minh các đài đang dùng giải pháp mua bản quyền hoặc khai thác giá rẻ để lấp đầy khung giờ khi thiếu hụt ngân sách sản xuất mới.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu thời lượng và bảng tương quan nguồn thu sẽ làm nổi bật sự chênh lệch lớn giữa chi phí bỏ ra và nguồn thu mang lại giữa các thể loại. Trò chơi truyền hình có tỷ lệ sinh lời quảng cáo gấp hơn 3 lần so với phim dài tập, giải thích vì sao các công ty truyền thông tư nhân có xu hướng đổ vốn mạnh vào các khung giờ gameshow và talkshow thay vì sản xuất phim chính luận địa phương.

So sánh với các nghiên cứu trước đây như nghiên cứu tại Đài Hà Tây giai đoạn 2004 - 2006 hay nghiên cứu tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012, hoạt động xã hội hóa tại 3 tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình đã có bước tiến dài về tính chuyên nghiệp và sự đa dạng của đối tác tham gia từ các Sở, Ban, Ngành đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Dẫu vậy, hạn chế lớn nhất vẫn là tình trạng manh mún, thiếu quy hoạch chiến lược dài hạn, dễ dẫn đến nguy cơ nội dung bị thương mại hóa hoặc chi phối bởi quyền lợi riêng của nhà tài trợ nếu công tác kiểm duyệt bị buông lỏng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả và tính bền vững của hoạt động xã hội hóa sản xuất truyền hình tại khu vực đồng bằng sông Hồng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện quy chế liên kết và chuẩn hóa quy trình kiểm duyệt nội dung. Ban Giám đốc các Đài PT-TH cần chủ trì ban hành văn bản quy định chặt chẽ về bản quyền, tỷ lệ quyền lợi quảng cáo và tiêu chuẩn kỹ thuật. Mục tiêu là kiểm soát 100% kịch bản tiền kỳ và nghiệm thu sản phẩm hậu kỳ trước khi lên sóng, tuyệt đối không để nội dung mang tính thương mại làm suy giảm tôn chỉ chính trị. Thời gian triển khai ngay trong giai đoạn 2019 - 2020.

Thứ hai, tái cấu trúc khung giờ phát sóng và nâng cao chất lượng chương trình tự sản xuất. Phòng Nội dung và Kế hoạch chương trình các Đài cần quy hoạch lại thời lượng, từng bước giảm tỷ trọng phát sóng phim nước ngoài xuống dưới 35%, tăng cường các chương trình liên kết về văn hóa bản địa, lịch sử, nông nghiệp nông thôn lên mức 30% đến 35% tổng thời lượng. Thời gian thực hiện từ năm 2019 đến năm 2022.

Thứ ba, đa dạng hóa mô hình hợp tác và chuyên nghiệp hóa hoạt động xúc tiến quảng cáo. Trung tâm Dịch vụ và Quảng cáo thuộc các Đài cần chủ động xây dựng gói sản phẩm truyền thông tích hợp (trên sóng truyền hình, trang tin điện tử và mạng xã hội), mở rộng mạng lưới liên kết với hơn 50 doanh nghiệp tiềm năng trong và ngoài tỉnh. Mục tiêu đạt mức tăng trưởng doanh thu xã hội hóa từ 15% đến 20% mỗi năm.

Thứ tư, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực và nâng cấp đồng bộ hạ tầng công nghệ. Lãnh đạo các Đài phối hợp với các cơ sở đào tạo báo chí tổ chức tập huấn định kỳ kỹ năng sản xuất truyền hình hiện đại, kỹ thuật số cho đội ngũ phóng viên, kỹ thuật viên. Mục tiêu đến năm 2022 có 100% nhân sự làm chủ công nghệ sản xuất chương trình chuẩn độ nét cao và tương tác đa nền tảng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất, Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương. Luận văn cung cấp khung giải pháp toàn diện để xây dựng đề án tự chủ tài chính, tối ưu hóa quy trình liên kết sản xuất và quản trị xung đột lợi ích với đối tác truyền thông.

Nhóm thứ hai, các nhà hoạch định chính sách thuộc Ban Tuyên giáo, Bộ Thông tin và Truyền thông, Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh. Tài liệu là căn cứ thực tiễn giá trị để đánh giá hiệu quả thực thi Nghị định 06/2016/NĐ-CP và Quyết định số 362/QĐ-TTg về quy hoạch báo chí tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

Nhóm thứ ba, các công ty truyền thông, doanh nghiệp quảng cáo và các nhà tài trợ. Doanh nghiệp có thể hiểu rõ hành lang pháp lý, cơ chế ăn chia quyền lợi quảng cáo và nhu cầu thực tế của các đài truyền hình cấp tỉnh để xây dựng phương án hợp tác đôi bên cùng có lợi.

Nhóm thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Báo chí, Truyền thông đa phương tiện, Quản lý văn hóa. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật bổ ích về phương pháp nghiên cứu thực chứng, phân tích kinh tế truyền thông và kỹ thuật điền dã báo chí.

Câu hỏi thường gặp

Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình có phải là tư nhân hóa báo chí không? Hoàn toàn không. Xã hội hóa là cơ chế huy động nguồn lực kinh phí, công nghệ và nhân lực sáng tạo của xã hội vào các khâu sản xuất theo quy định tại Điều 37 Luật Báo chí năm 2016. Đài truyền hình luôn giữ quyền sở hữu giấy phép, kiểm duyệt nội dung và quyết định phát sóng, tuyệt đối không chuyển giao quyền kiểm soát kênh sóng cho tư nhân.

Các đài truyền hình địa phương gặp áp lực tài chính lớn nhất ở điểm nào? Áp lực lớn nhất là chi phí duy trì bộ máy và tái đầu tư kỹ thuật trong bối cảnh cắt giảm ngân sách. Điển hình như Đài Thái Bình năm 2017 chỉ nhận 7 tỷ đồng ngân sách, vừa đủ trả lương cho 120 nhân sự, khiến toàn bộ chi phí sản xuất 18 giờ phát sóng mỗi ngày phải trông cậy vào nguồn thu quảng cáo và tài trợ xã hội hóa.

Vì sao thể loại gameshow thu hút quảng cáo vượt trội so với phim dài tập tại các đài địa phương? Gameshow có tính tương tác cao, hình thức giải trí sinh động và dễ dàng lồng ghép thương hiệu của nhà tài trợ một cách trực tiếp. Khảo sát thực tế cho thấy gameshow chỉ chiếm 6% thời lượng phát sóng nhưng mang lại 19% doanh thu, trong khi phim dài tập chiếm 38% thời lượng nhưng chỉ thu hút được 6% doanh thu quảng cáo.

Tỷ lệ liên kết xã hội hóa tối đa trên sóng truyền hình được pháp luật quy định là bao nhiêu? Theo Điều 16 Nghị định 06/2016/NĐ-CP và Quyết định 1431/QĐ-TTg, các chương trình liên kết trên kênh thời sự - chính trị tổng hợp phục vụ nhiệm vụ thiết yếu không được vượt quá 30% tổng thời lượng phát sóng lần đầu, đảm bảo đài truyền hình phải tự sản xuất tối thiểu 70% thời lượng.

Vì sao các đài khu vực đồng bằng sông Hồng phát sóng phim truyện lên tới hơn 40% thời lượng? Do chi phí tự sản xuất chương trình mới rất tốn kém trong khi nguồn ngân sách eo hẹp. Khung phát sóng phim truyện chiếm từ 39,88% đến 41,13% (chủ yếu là phim nước ngoài giá rẻ hoặc trao đổi bản quyền) là giải pháp tình thế để các đài lấp đầy thời lượng phát sóng từ 18 đến 19 giờ mỗi ngày.

Kết luận

Năm nội dung cốt lõi đúc kết từ công trình nghiên cứu:

  • Xã hội hóa sản xuất truyền hình là xu thế khách quan, là chìa khóa tháo gỡ khó khăn tài chính cho các đài địa phương khi thực hiện cơ chế tự chủ theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP.
  • Thực trạng phát sóng tại Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình đã nâng thời lượng lên 18 đến 19 giờ/ngày, tỷ lệ xã hội hóa đạt 25% đến 30% nội dung sản xuất mới nhưng tỷ lệ tự sản xuất còn thấp ở mức 15% đến 25%.
  • Cơ cấu chương trình còn phụ thuộc nhiều vào phim truyện (chiếm trên 40% thời lượng) trong khi các thể loại giải trí như gameshow mang lại hiệu quả doanh thu cao nhất (chiếm 19% tổng thu quảng cáo).
  • Công tác quản lý, kiểm duyệt kịch bản và phân định quyền lợi tài chính giữa nhà đài và đối tác liên kết cần được chuẩn hóa để ngăn ngừa thương mại hóa báo chí.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp về thể chế, khung giờ phát sóng, xúc tiến thương mại và đào tạo công nghệ là định hướng chiến lược để các đài phát triển bền vững đến năm 2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về thực tiễn xã hội hóa truyền hình tại khu vực đồng bằng sông Hồng, bổ sung cơ sở khoa học cho lý luận báo chí học và quản trị truyền thông địa phương. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý và các đài truyền hình khẩn trương áp dụng bộ quy chuẩn liên kết sản xuất trong giai đoạn 2020 - 2025 nhằm thực hiện thành công quy hoạch báo chí quốc gia. Các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp tục mở rộng đề tài trên phạm vi các khu vực kinh tế - xã hội khác trên toàn quốc.