mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả "[34, tr. Như vậy, các quan niệm trên tương đối thống nhất với khái niệm được đề xuất trong từ điển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình”. Từ các quan điểm trên, có thể tiếp cận khái niệm “chương trình truyền hình” ở các khía cạnh như sau: Từ góc độ kỳ thuật truyên tải thông tin, chương trình truyên hình được xem là một tổng thể logic các chất liệu chứa thông tin trên cơ sở những nguyên tắc phối họp nhất định để đạt được mục đích đưa ra được thông điệp cụ thể, rõ ràng khi xây dựng chương trình. Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” của tác giả Trần Bảo Khánh, khái niệm “chương trình truyền hình” được hiểu là “kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng.30] Điều này có thể được lý giải là chương trình truyền hình được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể.
Những thông tin mà chương trình truyền hình cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì thế đòi hỏi phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp thể hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người. Chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các đài truyền hình.
Từ góc độ vai trò của “chương trình” trong sứ mệnh thông tin của Kênh truyền hình, chương trình được hiểu là "hình thức thể hiện thực tế, là sự vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội” [40, tr. Chương trình là linh hồn của các đài truyền hình. Không có chương trình thì cũng không có truyền hình. Cùng với sự phát triến của công nghệ truyền hình, những yêu cầu thông tin từ xã hội, các dạng thức chương trình ngày càng trở nên phong phú.
Báo cáo Tổng kết công tác năm 2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu rõ: Hiện nay, trên cả nước có 67 Đài PT- TH Trung ương và địa phương và 281 kênh truyền hình, sổ lượng đầu mục chương trình cũng tăng lên nhanh chóng. Để thuận tiện cho công tác quản lý cũng như làm chủ các hoạt động sản xuất chương trình, ngay từ rất sớm, người ta đã quan tâm đến việc phân nhóm chương trình truyền hình. Cho đến nay, tiêu chí để phân loại chương trình truyền hình chưa thống nhất. Theo tác giả Trần Bảo Khánh, một số nước phát triển phân chia thành 2 loại chương trình truyền hình: (l)loại sản xuất trực tiếp với hai tiểu loại là sản xuất trong studio và sản xuất ngoài trời, (2) loại sản xuất có hậu kỳ.
Chương trình truyền hình được bắt đầu thực hiện sau khi kịch bản được duyệt. Việc thực hiện được tiến hành trong điều kiện đặc thù của truyền hình, nó phụ thuộc nhiều vào khả năng, trang bị kỹ thuật từ khi bắt đầu đến khi phát sóng tới máy thu cho người xem. Khái niệm về xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Xã hội hóa truyền hình là sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình truyền hình (CTTH) của đối tác ở ngoài đài TH, ngoài ngành TH. Trước kia, các chương trình truyền hình lên sóng đều là sản phẩm của Đài truyền hình, sản xuất chương trình với nguồn lực, thiết bị kỹ thuât và các điều kiện khác của đài truyền hình.
Hiểu theo cách khác, xã hội hóa sản xuất các chương trình của đài truyền hình là việc huy động các nguồn (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất các chương trình truyền hình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài truyền hình cả về nhân lực và các phương tiện kỹ thuật trong hoạt động truyền hình. Cách làm này khác với phương thức chỉ dựa vào nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, ngân sách của bản thân các đài truyền hình để thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình. Nhìn từ thực tế, các đơn vị như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. nhờ đẩy mạnh công tác XHH mà đã tự cân đối được kinh phí cho toàn bộ hoạt động của mình.
Hiểu theo cách khác, việc XHH sản xuất các chương trình truyền hình đã tăng thêm sức sống, tính đa dạng, phong phú về nội dung các chương trình truyền hình. Đây có thể coi là một tư duy mới, một cách nhìn mới của những người làm truyền hình nước ta hiện nay. Hiện nay đã và đang được nghe nhắc nhiều đến việc mua bản quyền các chương trình truyền hình, một xu thế chủ yếu thể hiện tính chuyên nghiệp của ngành truyền hình hiện đại. Đài truyền hình lúc này không phải ôm đồm toàn bộ các khâu sản xuất chương trình, mà thay vào đó có thể đặt hàng một số đơn vị bên ngoài (chuyên làm về một lĩnh vực nào đó của truyền hình) hoặc phối hợp với họ để tổ chức sản xuất chương trình.
Thực chất vấn đề kinh tế và chi phí sản xuất là yếu tố chi phối chủ yếu quá trình xã hội hóa sản xuất truyền hình ở nước ta. Ớ một khía cạnh nào đó, các đơn vị ngoài Đài truyền hình nếu có nhu cầu đều có thể thành lập công ty, phát triển tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình, miễn sao có kinh phí hoạt động, về phía các đài truyền hình, muốn đặt hàng chương trình nào đó để phát sóng cũng cần phải có sự đảm bảo về kinh phí. Hiểu theo nghĩa rộng, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình truyền hình là huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình để sản xuất các chương trình truyền hình. Cách làm này khác với cách làm chỉ dựa vào nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và ngân sách của bản thân đài truyền hình đế thực hiện sản phẩm truyền hình.
Theo nghĩa này, xã hội hoá việc sản xuất sản phẩm (chương trình) truyền hình đã diễn ra từ lâu, với các hình thức rất khác nhau nhưng bây giờ việc này tiên hành rộng rãi và có quy mô, hiệu quả cao hơn. Từ khía cạnh nguồn lực tài chính, các đài truyền hình đã tự chủ tài chính như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh.dựa vào phương thức này mà trang trải cho toàn bộ hoạt động của mình. Theo nghĩa hẹp hơn, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình, sản phẩm truyền hình là: Có các đơn vị, tổ chức, có thể cả cá nhân ngoài đài cung cấp trọn vẹn sản phẩm theo yêu càu của đài để phát sóng. Như vậy, sẽ có nhiều đơn vị thuộc nhiều thành phần kinh tế - xã hội khác nhau thực hiện trọn gói các sản phẩm truyền hình, nhưng việc phát sóng thì thuộc quyền quản lý của các đài truyền hình.
Xã hội hoá việc sản xuất chương trình truyền hình khác với tư nhân hoá, thương mại hoá, lại càng không phải là “chia lô sóng truyền hình ra bán”. Nhiều người đã hết sức lo ngại về hệ quả xu thế xã hội hoá truyền hình. Quan niệm cho rằng, thực chất đây có phải là tư nhân hoá truyền hình, là thương mại hoá báo chí, là “bán sóng truyền hình” là không chính xác. Truyền hình là một loại hình truyền thông đòi hỏi chi phí rất cao, hiện nay với nguồn kinh phí còn khiêm tốn được phân bổ từ nguồn ngân sách, diện phủ sóng và nguồn thu quảng cáo hạn chế, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật còn thiếu và không đồng bộ nhưng phải liên tục đối mới, nâng cao chất lượng nội dung chương trình, tăng thời lượng phát sóng.
là bài toán khó đối với các đài PT-TH địa phương. Việc thu hút các nguồn lực bên ngoài là một trong những giải pháp phù họp trong quá trình vận động và phát triển hiện nay. Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình hiện nay ờ các đài địa phương là nhằm thu hút, tập hợp một lực lượng lao động có nghiệp vụ chuyên môn báo chí và nguồn lực trí tuệ từ ngoài xã hội như các học giả, các chuyên gia tâm lý, kinh tế, xã hội học tham gia vào công việc làm báo thông qua các chương trình đôi thoại, tư vân., từ đó làm tăng tính đa dạng, phong phú nội dung chương trình. Việc đặt hàng trọn gói, hoặc giao khoán, trao đổi một công đoạn nào đó với một đơn vị ngoài Đài trong quy trình sản xuất chương trình truyền hình cũng là giải pháp hiệu quả để tăng sự hấp dẫn của kênh sóng mồi Đài, trong khi các điều kiện như nguồn nhân lực, trang thiết bị, kinh phí còn eo hẹp hiện nay.
Với cách hiểu theo những khái niệm nêu trên, xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính là để thu hút nguồn lực xã hội bên ngoài ngành truyền hình tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này.Như vậy, xã hội hoá việc sản xuất các chương trình truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để các tổ chức cá nhân có thê họp tác bình đẳng với các đài truyền hình đê sản xuất chương trình truyền hình. Việc cạnh tranh giữa các chương trình của các đài truyền hình với các đổi tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay sẽ góp phần tích cực và lành mạnh vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chưong trình. Quan điểm của Đảng và nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí nói chung, truyền hình nói riêng Từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI cho đến nay, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực. Nổi bật nhất là đổi mới kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đã khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân.
Đường lối đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế vừa thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vừa tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường, qua đó thu hút ngày càng nhiều các thành phần kinh tế, tiềm lực xã hội đóng góp cho sự phát triển chung.