Chương 1 TỔNG QUAN 1. Phát sinh bùn trong quá trình nạo vét đường thuỷ Bùn nạo vét (dredged sediments) là phần vật liệu trầm tích phát sinh từ quá trình nạo vét trầm tích ở lòng sông hay cảng biển nhằm mở rộng đường dẫn thuỷ lợi hay vận tải. Quá trình nạo vét là hoạt động được thực hiện định kỳ để đảm bảo hiệu quả, an toàn cho hoạt động vận tải đường thuỷ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tải trọng của phương tiện vận tải thuỷ [1]. Bùn nạo vét có nguồn gốc là sự kết hợp của các hạt sét, bùn và cát được tạo ra bởi sự xói mòn và phong hóa của đất, đá và vật liệu hữu cơ, cũng như hoạt động của con người [14].
Xử lý bùn nạo vét 1. Các hướng xử lý bùn nạo vét trên thế giới Việc xử lý chất thải hiện nay phụ thuộc vào từng quốc gia, khu vực dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường. Tại châu Âu, việc xử lý chất thải được hướng dẫn dựa trên Chỉ thị khung về Chất thải của Liên minh Châu Âu số 2008/98/EC. Theo cấp bậc ưu tiên, việc ngăn ngừa phát sinh bùn nạo vét là cách xử lý không thực tế.
Các trầm tích được xử lý để tái sử dụng có thể được làm sạch hoặc phân loại nhưng để được coi là tái sử dụng, chúng phải ở dạng giống như vật liệu ban đầu. Do đó, cát đã làm sạch sẽ được tái sử dụng nhưng nếu được chế tạo thành sản phẩm khác thì được coi là tái chế vì vậy gạch, cốt liệu và các vật liệu khác làm từ bùn nạo vét đã qua xử lý có thể được phân loại là vật liệu tái chế. Việc tái sử dụng bùn đã được thực hiện bằng cách thu giữ bùn tại các vị trí tại lưu vực sông để giảm xói mòn cục bộ [1]. Nếu sinh khối hoặc năng lượng được thu hồi từ quy trình quản lý bùn khô thì điều việc có thể được phân loại là thu hồi trong hệ thống phân cấp chất thải, nhưng hiện có rất ít ví dụ về thu hồi năng lượng hoặc sinh khối trong quá trình quản lý bùn nạo vét [15].
Xét về hệ thống phân cấp chất thải, việc xử lý chất thải là phương án cuối cùng. Việc thải bỏ, cả trên đất liền và trên biển, đều phải chịu sự kiểm soát rộng rãi, được thúc đẩy bởi các hiệp định và chỉ thị quốc tế cũng như các thông lệ, chính sách và quy định của quốc gia, khu vực và địa phương. Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, chỉ Trang 6 có khoảng 10% vật liệu nạo vét được tái chế/tái sử dụng và 90% được đổ xuống biển hoặc được sử dụng để san lấp đất [16].1Hệ thống phân cấp xử lý chất thải theo 2008/98/EC [17] 1. Xử lý bùn nạo vét bằng nhận chìm trên biển 1.
Xử lý nhận chìm bùn nạo vét trên thế giới Việc nhận chìm trên biển được định nghĩa theo điều 3 của Công ước Luân Đôn (LC) 1972 về Ngăn ngừa ô nhiễm biển bằng việc xả thải và chất khác và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), là hành động cố ý thải bỏ các chất thải hoặc vật chất khác từ tàu thuyền, máy bay, dàn khoan hoặc công trình nhân tạo trên biển khác. Kể từ năm 2006, việc thực thi Nghị định thư 1996 về LC 1972 có hiệu lực, đã giới hạn các loại vật chất được đổ thải xuống biển, bùn nạo vét vẫn được cho phép là chất thải có thể xử lý bằng nhận chìm trên biển. Bùn nạo vét chiếm khoảng 80-90% tổng lượng chất thải được phép nhận chìm trên biển [18]. Hàng năm, hơn một tỷ mét khối trầm tích được phát sinh trên thế giới [3].
Hiện tại, việc xử lý bùn nạo vét theo hướng nhận chìm trên biển đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Cách tiếp cận này dựa trên thực tiễn lâu dài và thực hiện tương đối dễ dàng khi so sánh với việc cố gắng xác định và triển khai theo cách sử dụng có lợi như san lấp hay tận dụng làm nguyên liệu [1]. Theo công bố của 15 quốc gia thành viên của Công ước Bảo vệ Môi trường biển Đông Bắc Đại Tây Dương (OSPAR), lượng bùn được nhận chìm hàng năm trong giai đoạn 2008 – 2014 rơi vào khoảng 1400 triệu tấn khô/năm [19].2 thể hiện lượng bùn nạo vét đã được nhận chìm Trang 7 bởi một số quốc gia thuộc OSPAR [19]. Tại Mỹ, theo công bố của Cơ quan Công binh Lục quân Mỹ (USACE), từ 2008 đến 2012, lượng bùn nạo vét phát sinh trung bình hằng năm khoảng 152 triệu m3 [2].2 Lượng bùn nạo vét đã nhận chìm của một số quốc gia thành viên OSPAR giai đoạn 2008 – 2014 [19] Tuy nhiên, các báo cáo đánh giá gần đây đã chỉ ra ảnh hưởng của việc nhận chìm bùn nạo vét xuống biển lên môi trường và sinh vật biển thông qua việc gây rối loạn hoá học, tăng lượng chất dinh dưỡng, thay đổi cấu trúc trầm tích, tăng độ che phủ, tăng độ đục và tăng hàm lượng hạt lơ lửng [3], được mô tả như Hình 1.
• Rối loạn các chất hoá học chủ yếu gây ra bởi bùn nạo vét tại các khu vực bị ô nhiễm các kim loại nặng như Pb, Cd, Cr, Ni,… hay hợp chất hữu có tính độc với sinh vật như PCB, thuốc trừ sâu hoá học,… • Tăng lượng chất dinh dưỡng khi bùn nạo vét chứa nhiều lượng hợp chất hữu cơ thông thường, mang một lượng dinh dưỡng nhất định với một số loài sinh vật biển. Khi nguồn dinh dưỡng bị thay đổi cục bộ, có thể dẫn đến sự thay đổi quần xã sinh vật ở đáy biển bằng việc tăng điều kiện sống cho một số loài cơ hội. • Cấu trúc trầm tích bị thay đổi mạnh tại khu vực nhận chìm bùn nạo vét. Bùn nạo vét chủ yếu là các hạt trầm tích mịn như bùn hoặc sét, khi được nhận chìm, sẽ che lấp lên khu vực đáy biển xa vị trí nạo vét, thường có cấu trúc Trang 8 trầm tích thô như cát.
Việc này có thể khiến một số loài sinh vật đáy, có sức chịu đựng kém chết ngay lập tức. Khu vực bị ảnh hưởng có thể mở rộng từ 1 đến 2 Km từ vị trí nhận chìm, và kéo dài trong một khoảng thời gian lâu dài. Kể từ 2 năm 3 tháng, so với ban đầu, số loài và số lượng sinh vật tại vị trí nhận chìm bùn vẫn thấp hơn, và tỉ lệ số sinh vật trong từng loài cũng đã thay đổi [20]. • Tăng cường bồi lắng là tác động được quan tâm nhiều nhất của việc nhận chìm trầm tích nạo vét.
Bùn sau khi bị nhận chìm, sẽ hình thành lớp bồi lắng lên các sinh vật đáy. Khi lớp bồi lằng dày quá ngưỡng chịu đựng, trở thành lớp cản trở sự kết nối của các loài sinh vật với môi trường nước và môi trường trên mặt nước. Khi lớp bồi lắng quá dày, sẽ chôn vùi các sinh vật đáy, gây chết các loài dễ tổn thương, không có hoặc kém khả năng di chuyển như san hô hay trứng nước, ốc, phá vỡ môi trường sống và chuỗi thức ăn của các loài sinh vật biển khác. • Sau khi nhận chìm bùn, khu vực biển tại đó tăng độ đục cục bộ, gây ảnh hưởng lên các loài sinh vật phù du hoặc săn mồi bằng thị giác.
Tuy nhiên, ảnh hưởng này không kéo dài và tương đương với sự thay đổi độ đục do tự nhiên như bão, thuỷ triều… Hình 1.3 Mô tả quá trình phân tán chất thải khi được nhận chìm trên biển [21] Trang 9 Với những tác động tiêu cực của việc xử lý bùn nạo vét bằng cách nhận chìm lên môi trường và sinh vật biển, các tổ chức đã có những quy định chặt chẽ về quản lý quá trình nhận chìm và hạn chế xả thải bùn nạo vét xuống biển [1], [22]. Xử lý nhận chìm bùn nạo vét tại Việt Nam Nhu cầu xây dựng, nạo vét và duy tu các cảng biển tại Việt Nam hằng năm rất lớn và tiếp tục tăng. Ước tính năm 2021, tại miền Bắc (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình) khoảng 10,39 triệu m3, tại miền Trung khoảng 13,82 triệu m3 (từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận) và 21,94 triệu m3 ở miền Nam (từ Bà Rịa Vũng Tàu đến Kiên Giang) [23]. Hiện tại, phương án xử lý lượng lớn bùn thải nạo vét được lựa chọn chủ yếu ở Việt Nam là nhận chìm trên biển.
Việc nhận chìm chất thải phải tuân thủ theo các quy định hiện hành trong văn bản quy phạm như Nghị định số 40/2016/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014. Việc nhận chìm phải đáp ứng được tiêu chí về thành phần chất thải thuộc danh mục cho phép theo Nghị định số 40/2016/NĐ- CP. Ngoài ra, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định chất thải nhận chìm phải đạt yêu cầu về quy chuẩn kỹ thuật môi trường, khu vực biển được sử dụng để nhận chìm phải phù hợp với quy hoạch sử dụng biển. Việc đánh giá bùn thải nạo vét được phép nhận chìm và khu vực nhận chìm được thực hiện theo Thông tư 28/2019/TT- BTNMT về Quy định kỹ thuật đánh giá chất nạo vét và xác định khu vực nhận chìm chất nạo vét ở vùng biển Việt Nam.
Mặc dù việc nhận chìm bùn nạo vét là phù hợp về pháp lý, nhưng việc triển khai nhận chìm phụ thuộc vào từng địa phương, tính chất khu vực biển được sử dụng để nhận chìm. Năm 2024, tỉnh Hà Tĩnh và Thanh Hoá đã không đồng ý cho hai doanh nghiệp tại địa phương thực hiện nhận chìm bùn nạo vét cảng tại khu vực biển do lo sợ về nguy cơ xảy ra sự cố môi trường biển, gây suy thoái đa dạng sinh học biển,… khi khối lượng nhận chìm vượt quá sức chịu tải môi trường của vùng biển địa phương. Thay vào đó, hướng tận dụng bùn nạo vét làm vật liệu san lấp được khuyến khích. Nghiên cứu mô phỏng về quá trình nhận chìm bùn nạo vét theo điều kiện của vùng biển Vũng Áng – Hà Tĩnh [4] cho thấy mức độ khuếch tán hàm lượng chất rắn Trang 10 đã vượt quy chuẩn trong bán kính 16 – 17 Km tính từ vị trí nhận chìm và chịu mức độ ảnh hưởng nặng nhất là vùng bán kính 1 – 2 Km xung quanh.
Nồng độ tổng chất rắn lơ lửng dự kiến sẽ đạt đỉnh điểm sau 4-5 tuần sau khi nhận chìm, Sự tăng cường bồi lắng đáy biển sẽ đạt mức tối đa 49,05 ha và 140,66 ha với độ sâu tăng trên 0,5 m và 0,1 m. Kết quả trên cho thấy việc nhấn chìm sẽ tác động tiêu cực đến môi trường.