Đặt vấn đề Dàn là một trong những kết cấu đơn giản nhất và đƣợc sử dụng phổ biến trong xây dựng dân dụng và công nghiệp. Nó đƣợc tổ hợp bởi các kết cấu dạng thanh và thƣờng làm bằng thép. Nó có khả năng vƣợt nhịp lớn và chịu lực lớn. Ngoài ra, do cấu tạo đặc biệt của dàn mà nó có thể đƣợc sử dụng linh hoạt theo nhiều loại kiến trúc khác nhau.
Một số công trình trong xây dựng có sử dụng kết cấu dàn nhƣ: cầu vƣợt sông (Hình 1.1a), mái vòm sân vận động (Hình 1.1b), dàn khoan biển (Hình 1.1c), tháp truyền tải điện (Hình 1. a) Cầu vƣợt sông; b) Sân vận động Wembley, London; (Nguồn:http://kientruc.vn/nhung- (Nguồn: cay-cau-dep-nhat-the-gioi.html) http://www.com) 2 c) Dàn khoan Tam Đảo, Việt Nam; d) Tháp truyền tải điện; (Nguồn:https://www.com/ (Nguồn:https://en.org/wiki/Tr gian-khoan-90-m-nuoc-cong- ansmission_tower) trinh-noi-hoa-ham-luong-cong- nghe-cao/c/9516177. Các công trình sử dụng hệ kết cấu dàn. Trong quá trình sử dụng, các hƣ hại trong kết cấu dàn có thể xảy ra do các nguyên nhân nhƣ các khuyết tật của vật liệu trong quá trình sản xuất hay các thiên tai thiên nhiên nhƣ động đất, bão, lũ lụt (Mohan và cộng sự (2013) [1], Wu và cộng sự (1992) [2]).
Thực tế đã có nhiều tai nạn thảm khốc xảy ra do kết cấu dàn bị hƣ hại dẫn đến mất mát lớn về cả tài sản và con ngƣời đƣợc thể hiện trong Hình 1. Chính vì vậy để đảm bảo an toàn tính mạng con ngƣời cũng nhƣ hạn chế hƣ hao về tài sản thì việc chẩn đoán và phát hiện sớm những hƣ hỏng của kết cấu dàn là một trong những vấn đề quan trọng. Tháp truyền hình Nam Định bị gãy sau cơn bão. (Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/can-canh-dut-gay-cua-thap-truyen-hinh-bi-sap- 95067.
Sập cầu Seongsu (Hàn Quốc) tháng10/1994. (Nguồn: https://news.vn/10-tham-hoa-sap-ham-cau-nghiem-trong-nhat-the-gioi- post288794. Sập cầu treo ở Indonesia, 11 ngƣời chết tháng 11/2011. (Nguồn: http://hikariacademy.vn/10-tham-hoa-sap-cau-ham-nghiem-trong-nhat-the- gioi) Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về chẩn đoán hƣ hỏng cho các kết cấu nói chung và kết cấu dàn nói riêng.Trong đó, có nhiều phƣơng pháp số đã đƣợc đề xuất và phát triển.
Tuy nhiên, các phƣơng pháp số này vẫn còn tồn tại một số hạn chế trong việc xác định vị trí và mức độ hƣ hại của kết cấu. Luận văn này vì vậy đƣợc thực hiện nhằm nghiên cứu một cách tiếp cận hiệu quả cho việc chẩn đoán hƣ hỏng kết cấu dàn. Tổng quan tài liệu 1. Tình hình nghiên cứu thế giới Hƣ hỏng của kết cấu là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về thông tin dao động nhƣ tần số, dạng dao động (mode shape).
Dựa vào các tính chất đó các nhà khoa học đã phát triển các phƣơng pháp để xác định hƣ hại của kết cấu. Chẳng hạn nhƣ: a) Phƣơng pháp xác định hƣ hại của kết cấu dựa trên thay đổi tần số: Cawley và Adams (2007) [3]; Lu và cộng sự (2002) [4], Saluwu (1997) [5] đã đề xuất giải pháp dựa trên sự thay đổi tần số tự nhiên để xác định mức độ hƣ hại trong kết cấu. b) Phƣơng pháp đƣờng cong dạng dao động (mode shape): Williams (1995) [6] đã so sánh các dạng dao động trƣớc và sau khi hƣ hỏng nhằm xác định vị trí hƣ hỏng, Allemang và Brown (1982) [7] đã sử dụng một công cụ đo đạc để phát hiện hƣ hại 5 trong kết cấu bê tông cốt thép cầu. Pandey và cộng sự (1991) [8] đã đề xuất phƣơng pháp dựa trên sự biến dạng của đƣờng cong trong kết cấu (đƣợc xác định là đạo hàm bậc hai của chuyển vị) để xác định hƣ hại trong từng kết cấu cụ thể của dầm.
c) Phân tích sự biến đổi của ma trận độ mềm (nghịch đảo của ma trận độ cứng): Phƣơng pháp này đƣợc Lu và cộng sự (2002) [4] phát triển dựa trên việc phân tích sự biến đổi ma trận độ mềm (nghịch đảo của ma trận độ cứng). Một hƣ hại trong kết cấu sẽ làm thay đổi đặc tính động học của nó nhƣ là tần số, các giá trị giảm chấn và dạng dao động (mode shape) gắn liền với mỗi tần số của mô hình. Các hƣ hại cũng dẫn đến những thay đổi ở một vài thông số khác của kết cấu nhƣ khối lƣợng, độ dãn, ma trận độ cứng và ma trận độ mềm của kết cấu. Trong nghiên cứu của mình, Pandey và cộng sự (1994) [9] đã đánh giá sự thay đổi trong ma trận độ mềm của một kết cấu nhƣ là một phƣơng pháp hiệu quả để xác định sự hiện diện của vị trí hƣ hại cũng nhƣ mức độ hƣ hại.
Nghiên cứu cho thấy ma trận độ mềm có thể đƣợc xác định một cách dễ dàng và có thể đo đƣợc từ một vài thông số động học tần số thấp của kết cấu. d) Phƣơng pháp véc-tơ định vị hƣ hại (DLV) đã đƣợc Bernal (2002) [10] đề xuất. Phƣơng pháp DLV chỉ sử dụng chỉ số năng lƣợng tích lũy chuẩn hóa nce của phần tử để xác định phần tử đó có hƣ hại hay không hƣ hại. Quek và cộng sự (2009) [11] đã sử dụng các cảm biến không dây đƣợc tích hợp vào hệ thống để phát hiện hƣ hại.
Đối với trƣờng hợp truyền tín hiệu thô, sự mất mát rời rạc của dữ liệu trong quá trình truyền từ các nút cảm biến đến trạm cơ sở cần đƣợc giải quyết. Các tác giả đã đề xuất một thuật toán để phục hồi các dữ liệu bị mất và đƣợc tích hợp với phƣơng pháp phát hiện hƣ hại DLV. Phƣơng pháp DLV cũng đƣợc Yang và cộng sự [12]; Seyedpoor và cộng sự (2015) [13] áp dụng cho dàn. e) Mô hình năng lƣợng biến dạng: Phƣơng pháp năng lƣợng biến dạng do Shi và cộng sự (1998) [14] đề xuất.
Phƣơng pháp này xem xét năng lƣợng biến dạng của dạng dao động (mode shape) để xác định vị trí hƣ hại của kết cấu dầm. Wu và cộng sự (2016) [15] nghiên cứu cho dầm Euler-Bermoulli. 6 Trong các nghiên cứu trƣớc đây của Gunes (2013) [16]; Doebling và cộng sự (1996) [17], các tác giả đã chứng minh rằng phƣơng pháp dựa trên sự thay đổi của năng lƣợng biến dạng là tốt hơn so với những phƣơng pháp khác trong việc xác định hƣ hại. Tuy nhiên, các phƣơng pháp trên chỉ có hiệu quả trong việc xác định vị trí hƣ hại, chứ chƣa xác định đƣợc mức độ hƣ hại của kết cấu.
Cũng cần nói thêm rằng, ngoài các phƣơng pháp xác định mức độ hƣ hại kết cấu nêu trên, nhóm phƣơng pháp này còn có các phƣơng pháp khác nhƣ phƣơng pháp cập nhật ma trận tối ƣu của Beattie (1991) [18], Zimmerman và cộng sự (1992) [19], phƣơng pháp biến đổi sóng nhỏ của Sun (2002) [20], phƣơng pháp dựa trên cơ sở mạng thần kinh nhân tạo của Kudva và cộng sự (1992) [21], Wu và cộng sự (1992) [22], v. Ngoài nhóm các phƣơng pháp chỉ xác định vị hƣ hại của kết cấu nêu trên, còn có các nghiên cứu xác định cùng lúc cả vị trí và mức độ hƣ hại của kết cấu nhƣ: - Phƣơng pháp CSS (Charged System Search) của Kaveh và cộng sự (2015) [23] có thể phát hiện cả vị trí và mức độ hƣ hỏng của kết cấu dàn bằng những thay đổi tần số dao động tự nhiên và dạng dao động (mode shape). Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng sự khác biệt giữa các đặc tính của cấu trúc trƣớc và sau hƣ hại để xác định hƣ hại của kết cấu không phá hủy. Các tác giả đã thành lập và giải một bài toán tối ƣu ngƣợc, trong đó mức độ hƣ hại cho mỗi phần tử đƣợc coi là các biến tối ƣu.
Hàm mục tiêu là cực tiểu sự khác biệt giữa các đặc tính của mô hình tƣơng ứng với các đặc tính đƣợc kiểm nghiệm của kết cấu bị hƣ hại thực tế. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã xác định hƣ hại của kết cấu dàn phẳng và không gian dựa trên sự thay đổi trong các tần số tự nhiên của kết cấu và dạng dao động (mode shape). Thuật toán CSS cải tiến là một phƣơng pháp tối ƣu toàn cục. - Wei và cộng sự (2015) [24] đã nghiên cứu một phƣơng pháp hai bƣớc dựa trên phƣơng pháp thay đổi năng lƣợng biến dạng để xác định hƣ hại trong tấm mỏng.
Trong bƣớc đầu tiên, vị trí hƣ hại đƣợc xác định dựa vào sự thay đổi năng lƣợng biến dạng. Trong bƣớc thứ hai, mức độ hƣ hại của các vị trí bị hƣ hại đƣợc xác định bằng mô hình phần tử hữu hạn dựa trên sự thay đổi của năng lƣợng biến dạng. 7 - Wang và cộng sự (2001) [25] đã nghiên cứu một phƣơng pháp hai giai đoạn để xác định hƣ hại kết cấu dàn sử dụng dữ liệu thử nghiệm tĩnh và những thay đổi tần số dao động tự nhiên. Trong nghiên cứu này, mức độ hƣ hại của kết cấu đƣợc đánh giá bằng phƣơng pháp xấp xỉ bậc nhất dựa trên sự thay đổi của biến dạng tĩnh và tần số dao động tự nhiên.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Tình hình nghiên cứu trong nƣớc về các phƣơng pháp chẩn đoán hƣ hỏng của kết cấu vẫn còn nhiều hạn chế. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể đƣợc kể đến nhƣ: - Nguyễn Quý Hân và Nguyễn Thị Hiền Lƣơng (2010) [26] đã thực hiện “Chẩn đoán khung có chứa vết nứt bằng wavelet kết hợp giải thuật di truyền”, Hội nghị Khoa học toàn quốc Cơ học Vật rắn biến dạng lần thứ X. - Nguyễn Khoa Việt và Trần Hải Thanh (2010) [27] đã sử dụng cảm biến wavelet để phát hiện các vết nứt rất nhỏ trong dầm. - Lê Xuân Hằng và Nguyễn Thị Hiền Lƣơng (2009) [28] đã thực hiện “Phân tích và chẩn đoán dầm đàn hồi có nhiều vết nứt”.
Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng thuật toán di truyền để xác định vị trí và chiều sâu của các vết nứt trong dầm công xôn. - Trần Văn Liên và Trần Tuấn Khôi (2011) [29] đã thực hiện “Kiểm tra thực nghiệm phƣơng pháp xác định vết nứt trong dầm chịu uốn bằng phân tích wavelet của các chuyển vị tĩnh”. - Trần Văn Liên và Trịnh Anh Hào (2014) [30] đã thực hiện “Xác định vết nứt trong kết cấu hệ thanh bằng phân tích wavelet dừng đối với chuyển vị động”. - Võ Duy Trung và cộng sự (2016) [31] đã thực hiện một phƣơng pháp hai bƣớc để xác định hƣ hại của kết cấu.
- Nguyễn Thanh Tiền (2017) [32], luận văn Thạc sĩ Trƣờng Đại học Mở Tp.HCM, đã sử dụng phƣơng pháp véc-tơ định vị DLV và giải thuật tiến hóa khác biệt DE để chẩn đoán hƣ hỏng cho dầm composite nhiều lớp. 8 - Đỗ Quí Toàn (2017) [33], luận văn Thạc sĩ Trƣờng Đại học Mở Tp.HCM, đã sử dụng phƣơng pháp véc-tơ định vị DLV và giải thuật tiến hóa khác biệt DE để chẩn đoán hƣ hỏng cho kết cấu khung.