CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG CẢM BIẾN KHÔNG DÂY (WSN) 1.1 Giới thiệu chung Trong những năm gần đây, WSN là một trong những công nghệ thông tin mới phát triển nhanh chóng nhất, đã và đang được triển khai cho nhiều các ứng dụng khác nhau như: điều khiển quá trình công nghiệp, bảo mật và giám sát, cảm biến môi trường, kiểm tra sức khỏe… WSN liên kết các node với nhau bằng kết nối sóng vô tuyến, trong đó các node mạng thường là các thiết bị đơn giản, nhỏ gọn, giá thành thấp và có số lượng lớn, được phân bố trên một diện tích rộng, sử dụng nguồn năng lượng pin, có thời gian hoạt động lâu dài (vài tháng đến vài năm) và có thể hoạt động trong môi trường khắc nghiệt (chất độc, ô nhiễm, nhiệt độ không ổn định. Các node cảm biến được triển khai trong một trường cảm biến (sensor field) được minh họa trên hình 1. Mỗi node cảm biến trong mạng có khả năng thu thập số liệu, định tuyến về bộ thu nhận (sink) để chuyển tới người dùng và định tuyến các bản tin mang theo lệnh hay yêu cầu từ node sink đến các node cảm biến. Số liệu được định tuyến về phía node sink theo cấu trúc đa liên kết không có cơ sở hạ tầng nền tảng tức là không có các trạm thu phát gốc hay các trung tâm điều khiển.
Bộ thu nhận có thể liên lạc trực tiếp với người dùng hoặc gián tiếp thông qua Internet hay vệ tinh.2: Mô hình triển khai các node cảm biến Cấu tạo của một node cảm biến [1] như sau: Đặng Thị Sương - K16Đ2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ 2 Đại học Công nghệ - ĐHQGHN Hình 1.2: Cấu tạo của một node cảm biến - Bộ xử lý nhúng năng lượng thấp: Bộ xử lý có nhiệm vụ xử lý thông tin cảm biến cục bộ và thông tin truyền bởi các node cảm biến khác. Các bộ xử lý gắn vào thiết bị thường bị hạn chế về công suất nên được chạy trên các hệ điều hành có các thành phần đặc biệt như hệ điều hành TinyOS. - Bộ nhớ: Lưu trữ dưới dạng ROM và RAM cả bộ nhớ chương trình (các lệnh được thực hiện bởi bộ xử lý) và bộ nhớ dữ liệu (lưu các kết quả đo chưa qua xử lý và đã qua xử lý bởi bộ cảm biến, lưu các thông tin cục bộ khác). Bộ nhớ của thiết bị WSN thường bị giới hạn đáng kể do giá thành thiết bị thấp.
- Bộ thu phát sóng vô tuyến: Các thiết bị WSN có tốc độ thấp (10100kbps) và là thiết bị vô tuyến không dây dải ngắn (nhỏ hơn 100m). Trong WSN thì truyền vô tuyến là một quá trình sử dụng công suất mạnh nhất, do đó nó cần phải kết hợp có hiệu quả công suất giữa chế độ ngủ (sleep) và chế độ hoạt động. - Cảm biến: Do giới hạn băng thông và nguồn, các thiết bị WSN chỉ hỗ trợ bộ cảm biến tốc độ dữ liệu thấp. Với các ứng dụng bộ cảm biến đa chức năng, mỗi thiết bị có một vài loại sensor trên bo mạch.
Tùy theo mỗi ứng dụng sẽ có một loại sensor riêng: sensor nhiệt độ, sensor ánh sáng, sensor độ ẩm, sensor áp suất, sensor gia tốc, sensor từ, sensor âm thanh, hay thậm chí là sensor hình ảnh có độ phân giải thấp. - Hệ thống định vị địa lý GPS (lựa chọn): Trong nhiều ứng dụng của WSN, ứng dụng cho các phép đo sensor để đánh dấu vị trí là quan trọng nhất. Cách đơn giản nhất để định vị là cấu hình trước cho sensor ở vị trí triển khai, tuy nhiên nó chỉ mang tính khả thi trong một số điều kiện triển khai nhất định. - Nguồn năng lượng: Năng lượng nguồn được sử dụng để có thể triển khai hoạt động của thiết bị WSN như nguồn pin.
Đặng Thị Sương - K16Đ2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ 3 Đại học Công nghệ - ĐHQGHN 1.2 Đặc điểm và kiến trúc giao thức mạng 1.1 Đặc điểm Mạng cảm biến bao gồm một số lượng lớn các node cảm biến, các node cảm biến có giới hạn và ràng buộc khắt khe về tài nguyên đặc biệt là năng lượng. Do đó, cấu trúc mạng cảm biến có đặc điểm rất khác với các mạng truyền thống. Sau đây ta sẽ phân tích một số đặc điểm nổi bật trong mạng cảm biến như sau: - Khả năng chịu lỗi: Một số các node cảm biến có thể không hoạt động nữa do thiếu năng lượng, do những hư hỏng vật lý hoặc do ảnh hưởng của môi trường. Khả năng chịu lỗi thể hiện ở việc mạng vẫn hoạt động bình thường, duy trì những chức năng của nó ngay cả khi một số node mạng không hoạt động.
- Khả năng mở rộng: Khi nghiên cứu một hiện tượng, số lượng các node cảm biến được triển khai có thể đến hàng trăm nghìn node, phụ thuộc vào từng ứng dụng con số này có thể vượt quá hàng triệu. Do đó cấu trúc mạng mới phải có khả năng mở rộng để có thể làm việc với số lượng lớn các node này. - Giá thành sản xuất: Vì các mạng cảm biến bao gồm một số lượng lớn các node cảm biến nên chi phí của mỗi node rất quan trọng trong việc điều chỉnh chi phí của toàn mạng. Nếu chi phí của toàn mạng đắt hơn việc triển khai sensor theo kiểu truyền thống, như vậy mạng không có giá thành hợp lý.
Do vậy, chi phí của mỗi node cảm biến phải giữ ở mức thấp. - Ràng buộc về phần cứng: Vì số lượng các node trong mạng rất nhiều nên các node cảm biến cần phải có các ràng buộc về phần cứng như sau: Kích thước phải nhỏ, tiêu thụ năng lượng thấp, chi phí sản xuất thấp, có khả năng tự trị và hoạt động không cần có người kiểm soát, thích nghi với môi trường. - Môi trường hoạt động: Các node cảm biến được thiết lập dày đặc, rất gần hoặc trực tiếp bên trong các hiện tượng để quan sát. Vì thế, chúng thường làm việc mà không cần giám sát ở những vùng xa xôi.
Chúng có thể làm việc ở bên trong các máy móc lớn, ở dưới đáy biển, hoặc trong những vùng ô nhiễm hóa học hoặc sinh học, ở gia đình hoặc những tòa nhà lớn. - Phương tiện truyền dẫn: Trong những mạng cảm biến đa hop, các node liên kết với nhau bằng kết nối không dây. Các kết nối này có thể tạo nên bởi sóng vô tuyến, hồng ngoại hoặc những phương tiện quang học. Để thiết lập sự hoạt động thống nhất của những mạng này, các phương tiện truyền dẫn phải được chọn phải phù hợp trên toàn thế giới.
Hiện tại nhiều phần cứng của các node cảm biến dựa vào thiết kế mạch RF. Những thiết bị cảm biến năng lượng thấp dùng bộ thu phát vô tuyến 1 kênh RF hoạt động ở tần số 916MHz. Một cách khác mà các node trong mạng giao tiếp với Đặng Thị Sương - K16Đ2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ 4 Đại học Công nghệ - ĐHQGHN nhau là bằng hồng ngoại. Thiết kế máy thu phát vô tuyến dùng hồng ngoại thì giá thành rẻ và dễ dàng hơn.
Cả hai loại hồng ngoại và quang đều yêu cầu bộ phát và thu nằm trong phạm vi nhìn thấy, tức là có thể truyền ánh sáng cho nhau được. - Cấu trúc mạng (network topology): Mạng cảm biến không dây thường được triển khai trong phạm vi rộng, số lượng các node mạng lớn và được phân bố một cách ngẫu nhiên, các node mạng có thể di chuyển làm thay đổi sơ đồ mạng. Do vậy, mạng WSN cần có cấu trúc mạng linh động. Chúng ta có thể kiểm tra các vấn đề liên quan đến việc duy trì và thay đổi cấu trúc mạng ở 3 pha sau: • Pha tiền triển khai và triển khai: các node cảm biến có thể đặt lộn xộn hoặc xếp theo trật tự trên trường cảm biến.
Chúng có thể được triển khai bằng cách thả từ máy bay xuống, tên lửa, hoặc có thể do con người hoặc robot đặt từng cái một. • Pha hậu triển khai: sau khi triển khai, những sự thay đổi cấu trúc phụ thuộc vào việc thay đổi vị trí các node cảm biến, khả năng đạt trạng thái không kết nối (phụ thuộc vào nhiễu, việc di chuyển các vật cản…), năng lượng thích hợp, những sự cố, và nhiệm vụ cụ thể. • Pha triển khai lại: Sau khi triển khai, ta vẫn có thể thêm vào các node cảm biến khác để thay thế các node gặp sự cố hoặc tùy thuộc vào sự thay đổi chức năng. - Sự tiêu thụ năng lượng: Các node cảm biến không dây, có thể coi là một thiết bị vi điện tử chỉ có thể được trang bị nguồn năng lượng giới hạn.
Trong một số ứng dụng, việc bổ sung nguồn năng lượng không thể thực hiện được. Vì thế khoảng thời gian sống của các node cảm biến phụ thuộc chủ yếu vào thời gian sống của pin. Ở mạng cảm biến đa hop ad hoc, mỗi một node đóng một vai trò kép vừa khởi tạo vừa định tuyến dữ liệu. Sự trục trặc của một vài node cảm biến có thể gây ra những thay đổi đáng kể trong cấu hình và yêu cầu định tuyến lại các gói và tổ chức lại mạng.
Vì vậy, việc duy trì và quản lý nguồn năng lượng đóng một vai trò quan trọng.2 Kiến trúc giao thức mạng Kiến trúc giao thức áp dụng cho mạng cảm biến [2] được trình bày trong hình 1. Kiến trúc này bao gồm các lớp và các mặt phẳng quản lý. Các mặt phẳng quản lý này làm cho các node có thể làm việc cùng nhau theo cách hiệu quả nhất, định tuyến dữ liệu trong mạng cảm biến di động và chia sẻ tài nguyên giữa các node cảm biến. Đặng Thị Sương - K16Đ2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sĩ 5 Đại học Công nghệ - ĐHQGHN Hình 1.3 Kiến trúc giao thức mạng cảm biến Mặt phẳng quản lý năng lượng: điều khiển việc sử dụng nguồn năng lượng của node cảm biến.
Ví dụ: node cảm biến có thể tắt bộ thu sau khi nhận được một bản tin. Khi mức năng lượng của node cảm biến thấp, nó sẽ phát quảng bá tới các node cảm biến lân cận thông báo rằng nó có mức năng lượng thấp và không thể tham gia vào quá trình định tuyến. Mặt phẳng quản lý di động: có nhiệm vụ phát hiện và ghi lại sự chuyển động của các node cảm biến để duy trì tuyến tới người sử dụng và các node cảm biến có thể theo dõi các node cảm biến lân cận. Nhờ xác định được các node cảm biến lân cận, các node cảm biến có thể cân bằng giữa giữa công suất và nhiệm vụ thực hiện.