Phần mở đầu, Phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương: Chương : Lý luận chung về rừng đ c dụng và pháp luật về rừng đ c dụng. Chương 2: Thực trạng pháp luật về rừng đ c dụng và kiến nghị hoàn thiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 C ƯƠ 1 LÝ LU N CHUNG V R Đ C DỤNG VÀ PHÁP LU T V R Đ C DỤNG 1. Tổng quan về rừng đặc dụng 1.
Khái niệm rừ đặc dụng 1. Một số định nghĩa về rừng Rừng là một cấu thành quan trọng nhất của sinh quyển1 và là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến sinh thái, môi trường và sự phát triển kinh tế xã hội. Theo các nghiên cứu lịch sử, rừng đã gắn bó với con người từ khi con người xuất hiện tuy nhiên những hiểu biết về rừng chỉ mới thật sự hình thành từ thế kỷ XIX.2 Những vấn đề lý luận về rừng được xây dựng và phát triển qua một thời gian rất dài và ngày càng hoàn thiện hơn nhờ những thành tựu sinh thái học. Dấu mốc quan trọng đó là sự kiện nhà nghiên cứu H.Cotta (người Đức) xuất bản sách chuyên khảo “Những chỉ dẫn về lâm học” vào năm 7 để trình bày tổng hợp những khái niệm về rừng.
Ông cũng đ t nền tảng đầu tiên cho việc xây dựng học thuyết về rừng3. Hoạt động nghiên cứu về rừng liên tục được kế thừa và phát triển thể hiện thông qua hoạt động của những nhà nghiên cứu sau đó.F Morodop công bố tác phẩm “Học thuyết về rừng” với nhiều nội dung bổ sung hoàn thiện hơn học thuyết về rừng trước đó. Rồi đến Morozov (1930), Temslay (1935), M. Tcachenco (1952), Vili (1957), Odum (1966) hay Sukasov (1964) lần lượt đưa ra những định nghĩa về rừng với nhiều góc độ và theo hướng ngày càng tiến bộ hơn.
Nhìn chung hiện nay có hai trường phái lớn khi định nghĩa về rừng dựa trên nền tảng của hai học thuyết: (i) Học thuyết về hệ sinh thái; (2) Học thuyết “Quần lạc sinh địa” – kế thừa và phát triển từ học thuyết về rừng của Morodop. Hai học thuyết 1 Nguyễn Văn Thêm (2009), Bài giảng Lâm nghiệp đại cương, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1 2 Chu Thái Thành (2011), Bảo vệ rừng: nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của chúng ta, Tạp chí Cộng sản online; xem thêm: http://www.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=12163&print=true; ngày đăng: (Ngày truy cập 03/03/2017) 3 Nguyễn Thanh Tiến, Vũ Văn Thông (2008), Bài giảng Điều tra và phân loại rừng, Bộ môn điều tra quy hoạch rừng, Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại học Nông Lâm thuộc Đại học Thái Nguyên, tr.6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 không khác nhau về bản chất, sự khác nhau nằm ở chỗ mỗi học thuyết nhấn mạnh một khía cạnh đ c trưng riêng của rừng dựa trên những nguyên lý cơ bản của sinh thái thái học. Nhóm theo học thuyết về hệ sinh thái mà Vili (1957) là một đại diện tiêu biểu thì cho rằng rừng là một hệ sinh thái. Rừng được xem là một đơn vị tự nhiên trong sinh quyển bao gồm các yếu tố sống và không sống, giữa chúng có sự trao đổi chất và năng lượng tạo nên một hệ thống ổn định.
Rừng bao gồm quần xã sinh vật và các yếu tố vật lý, trong đó có sự tương tác giữa hai thành tố này với nhau. Quần xã sinh vật là tập hợp các yếu tố: các loài động vật, thực vật, vi sinh vật – yếu tố sống. Các yếu tố vật lý là tập hợp các thành phần: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, không khí và các yếu tố dinh dưỡng4. Theo học thuyết về “Quần lạc sinh địa” được Sukasov công bố năm 964, thì rừng là một quần lạc sinh địa.
Theo đó rừng là tổng hợp trên m t đất nhất định các hiện tượng tự nhiên đồng nhất như: khí quyển, đá mẹ, đất, thảm thực vật, thế giới động vật, vi sinh vật và các điều kiện thủy văn. Các hiện tượng tự nhiên này tạo thành một thể thống nhất biện chứng giữa các mâu thuẫn nội tại, luôn vận động và phát triển không ngừng. Quá trình quần lạc sinh địa theo Sukasov là quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng giữa các hợp phần5. Có thể nói, định nghĩa về rừng dựa trên nền tảng của hai học thuyết nêu trên có giá trị lớn trong việc đ t ra nền tảng tri thức phổ quát cho những nghiên cứu về rừng trong giai đoạn sau này.
Các tổ chức quốc tế hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và môi trường cũng lần lượt đưa ra những định nghĩa mang tính cụ thể về rừng dựa trên nền tảng phổ quát này. Theo Nghị định thư Kyoto năm 9976, rừng được định nghĩa theo phương thức định lượng với các tiêu chí cụ thể như: diện tích tối thiểu là 0,05 – 1,00ha; tỷ lệ che phủ tầng tán tối thiểu là 10 – 30%; chiều cao tiềm năng tối thiểu là 2 – 5m; rừng 4 Nguyễn Xuân Cự, Đỗ Đình Sâm (2003), Tài nguyên rừng, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 12 5 Nguyễn Xuân Cự, Đỗ Đình Sâm (20 3, sđd, tr.20 6 Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 non có tiềm năng đáp ứng ba tiêu chí trên7.
Tại hội nghị COP9 (UNFCCC, 2003) đã đ t ra các định nghĩa và quy tắc quan trọng để nhận diện rừng. Theo đó, rừng là một khu vực có diện tích đất tối thiểu từ 0,05-1,0 ha với độ che phủ trên 10-30% với các loài cây có tiềm năng phải đạt được chiều cao tối thiểu từ 2-5 mét trưởng thành tại chỗ8. Vào năm 20 0, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) đã đưa một định nghĩa tương đối rộng về rừng với mục đích đánh giá tài nguyên rừng toàn cầu. Theo FAO, rừng là diện tích đất đai rộng hơn 0,5 ha trở lên với các loại cây cao hơn 5m và độ che phủ của tán cây đạt hơn 0% ho c có thể đạt đến ngưỡng này.
FAO mở rộng định nghĩa rừng truyền thống bằng việc bổ sung các chú giải xác định rừng trồng chủ yếu được sử dụng cho mục đích lâm nghiệp, bảo vệ như các đồn điền cao su và gỗ sồi đứng, nứa cũng được coi là rừng9. Như vậy, FAO cho rằng các đồn điền cây độc canh vẫn được xem là rừng. Quan điểm này của FAO vấp phải nhiều sự phản đối của những nhà nghiên cứu lâm nghiệp vì họ cho rằng các đồn điền cây độc canh chẳng những không thể xem là rừng mà nó còn là nguyên nhân dẫn đến rừng tự nhiên bị phá hủy, những hệ sinh thái quý giá cân bằng khác cũng bị thay thế bởi một hệ sinh thái nghèo nàn dưới tán cây độc canh10. Tại Việt Nam, định nghĩa về rừng đã được luật hóa.
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa ho c hệ thực vật đ c trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên11. Với quy định này, về cơ bản các nhà làm luật đã kế thừa và tổng hợp hóa những quan điểm lý luận mang tính phổ quát của các học thuyết về 7 Nguyễn Thanh Huyền (2013), Pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 8 Tek Narayan Maraseni, Geoff Cockfield and Armando Apan (2012), Hệ thống quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại các quốc gia đang phát triển và tính tương thích với cdm, bản dịch.
Xem thêm: http://biendoikhihau.vn/vi/chi-tiet/he-thong-quan-ly-rung-dua-vao-cong-dong-tai-cac-quoc-gia-dang- phat-trien-va-tinh-tuong-thich-voi-cdm-bai-1-158213. 9 Nguyễn Thanh Tuyền (20 3), sđd, tr. 6 10 Xem thêm: Hữu Lũng: Đối núi có cây mà không thành rừng, http://land.vn/next/74/351/15; (Ngày truy cập 20/05/2017) 11 Khoản Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bên cạnh đó, định nghĩa của luật còn đưa ra tiêu chí định tính để nhận diện rừng.
Cụ thể hóa quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 0 tháng 6 năm 2009 quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng (sau đây gọi tắt là Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT). Theo đó, có ba tiêu chí được đ t ra để nhận diện một đối tượng là rừng: (1) Thứ nhất, đối tượng đó phải là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các loài cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5,0 mét trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây rừng ngập m n ven biển), tre nứa,… có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan. Đối với rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác rừng trồng có chiều cao trung bình trên ,5 m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3,0 m đối với loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ từ 1.000 cây/ha trở lên được coi là rừng. (2) Thứ hai, độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên.
Độ che phủ của tán cây được hiểu là mức độ che kín của tán cây rừng đối với đất rừng, được biểu thị bằng tỷ lệ phần mười giữa diện tích đất rừng bị tán cây rừng che bóng và diện tích đất rừng. (3) Thứ ba, diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên. Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha ho c dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán. Đối với các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… sẽ không được coi là rừng12.
Phân tích trên cho thấy các nhà lập pháp Việt Nam xác định một đối tượng là rừng dựa vào tính chất của các hợp phần nên hệ sinh thái với những định lượng cụ thể. Những đối tượng được quan tâm đó là những hợp phần chính trong hệ sinh thái, 12 Điều 3 Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chiều cao của hệ sinh vật, chủ yếu là cây gỗ lâu năm thân gỗ, cau dừa; độ che của tán cây và diện tích liền khoảnh mà hệ sinh thái tọa lạc.