CHƯƠNG 1. Vài nét về diễn ngôn và diễn ngôn tính dục trong văn chương, 1. Diễn ngôn Diễn ngôn (Discourse) đã trở thành một đối tượng thu hit sự quan tâm của rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: ngôn ngữ học, xã hội học, triết học, văn. hóa học, tâm lí xã hội.
Diễn ngôn trong ngôn ngữ học là khái niệm chỉ cấu trúc, liên kết của đơn vị ngôn ngữ trên câu, cần phân tích mạch lạc, liên kết vào ngữ cảnh để hiểu được ý nghĩa, lí do của nó. Đối với nghiên cứu văn hóa là tìm hiểu các cơ chế tiềm dn, những hạn chế lời nói trong thực tiễn giao tiếp. Khi với các ngành khoa học trên đi diễn ngôn trong văn học tạo lập tr thức, biểu hiện năng lực cảm thụ cái đẹp, cách lí giải, cách cắt nghĩa thể giới và con người của chủ thể phát ngôn. Diễn ngôn văn học có những đặc trưng cơ bản sau Điễn ngôn văn học tạo nghĩa về một hiện tượng, một sự thể.
DiỄn ngôn văn học luôn tìm cách tạo ra ý nghĩa mới về sự vật, đem lại cho con người cách nhìn mới về thế giới và vũ trụ, do đó cũng có thể nói nó đã nỗ lực góp công sức của mình tong việc tạo ra những trì thức chung. Dién ngôn văn học tạo ra tr thức và quyền lực. Diễn ngôn văn học cấp cho chúng ta một tỉ thức v hiện thực của con người, về môi trường trong đó con người tồn tại, đồng thời cả cách thức con người nắm bắt môi trường đó. Diễn ngôn văn học có tính lịch sứ.
Bởi lẽ những tri thức, cách nhìn về thế giới luôn biển đổi theo thời gian. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi nền văn hoá, mỗi thể chế chính trị - xã hội có một quy ước thực tiễn diễn ngôn nhất định. Diễn ngôn vẫn học có tính quy chiếu. Sự quy chiến của văn chương gằm hai cấp độ: nội quy chiếu và ngoại quy chiếu.
Thứ nhất, diễn ngôn văn chương. quy chiếu vào chính nó, quy chiếu vào các văn bản khác. Bởi vậy, đọc văn bản ở bình diện này cin đọc mã thấm mĩ, đọc văn bản mỡ, đọc liên văn bản, đọc tính đối thoại của văn bản. Thứ hai, diễn ngôn văn chương quy chiếu về hiện thực, về chủ ý của tác giả, về bối cảnh khởi thuỷ của sự phát ngôn và bối cảnh hiện thời của sự tiếp nhận nó.
Dién ngôn văn chương có tính lu cấu. Diễn ngôn văn học tạo ra các trí thức, giá trị mới qua hư cắu, tưởng tượng. Tính hư cấu giúp diễn ngôn vừa có khả năng biểu hiện chân lí vừa có khả năng thể hiện cá tính sáng tạo của chủ thể. sáng tạo Điễn ngôn văn chương sử dụng thủ pháp “lạ hóa ” để tạo ra hiệu lực cho các phát ngôn của nó.
Nghệ thuật là một cách trải nghiệm sự sing tao, “la hoá” là đặc trưng hình thức đương nhiên của nghệ thuật, nó có mặt ở bắt cứ nhà văn tảo và ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào. Nguyên tắc “lạ hóa” bao trùm một khu vực rông lớn các thủ pháp ở những cắp độ khác nhau của văn bản văn học, đó cũng là một đặc trưng cơ bản của diễn ngôn văn chương. Vì diễn ngôn có tính văn học nhờ thủ pháp "la hoá” mà nó sử dụng nên muốn xác định được đúng tí văn học của diễn ngôn cần đặt nó vào ngữ cảnh cụ thể, Dién ngôn van hoc mang tính phỏng nhại. DiỄn ngôn văn học luôn hướng tới nhận diện, phân biệt và đối thoại với các diễn ngôn khác.
Thuộc tính này làm. nên tính phỏng nhại của diễn ngôn trong từng giai đoạn văn học. Biểu hiện của tính phỏng nhại trong diễn ngôn văn học hết sức đa dạng, tập trung vào các vấn cđề như: phong cách, nội dung tư tưởng, thể loại. Sie tạo nghĩa của diễn ngôn văn học chịu sự chỉ phổi mạnh mẽ của vô thức, trực giác.
Nghĩa là diễn ngôn văn học mang tính vô thức tập thể. 10 ngôn luôn bị chỉ phối bởi một thứ quyền lực ngầm trong vô thức tập thể đã được tri thức hóa, ngôn ngữ hóa nhằm khách quan hóa cái chủ quan. Vô thức được cấu. trúc thành một diễn ngôn, thành một tiếng nói có trọng lượng trong văn bản.
Những đặc trưng trên của diễn ngôn trong văn học cho thấy sự hình thành ciễn ngôn chịu sự chỉ phối của các yêu tổ như: thời đại, chính trị, văn hóa, đạo đức, ý thức hệ, thị hiểu thẩm mĩ, tâm lí,. Cho nên, khi nghiên cứu diễn ngôn. văn học là chúng ta đi nghiên cứu hệ thống chủ thể diễn ngôn, trong đó chú trọng. sự tác động qua lại giữa ba yếu tố: người vi L nhân vật và người đọc.
Diễn ngôn văn học là một hình thái nghệ thuật ngôn từ với sự thống nhất hữu cơ giữa tư tưởng, nội dung và hình thức nghệ thuật. Diễn ngôn văn học là ign ngôn thứ sinh, được kiến tạo lại và thể hiện trong ngôn ngữ hình tượng (với hệ thống sự kiện, nhân vật, người kể chuyện, kết cấu, tình tiết, ngôn ngữ, các phương thức tu từ, giọng điệu, thế giới biểu tượng.) chịu sự chỉ phối của hệ thống quan điểm, tư tưởng nhất định. Diễn ngôn văn chương có tính đối thoại với mọi tri thức, tôn giáo, đức tin, đạo đức, văn hóa, luật pháp, các ngường giá trị. Như vậy, có thể hiểu: điển ngôn trong nghiên cứu văn học là "chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ để vượt thoát khỏi các hạn chế nhằm phát ra được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới trong chỉnh thể sáng tác"[S6] 1.
Diễn ngôn tính dục Tinh duc là tổng thé con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con. trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời. Tinh duc phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tổ sinh học, tâm lý, xã hội, tỉnh thần và văn hóa của đời sống.
Những yếu tổ này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mỗi quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội. " Nhu vay, rinh dục ở loài người là năng lực giới tính, thể chất, tâm lý và sinh đục, bao gồm mọi khi cạnh đặc trưng của nam giới và nữ giới. Tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng, vừa phản ánh mỗi quan hệ giới tính, vừa chứa đựng những yếu tố hữu hình và ấn giấu của cá nhân. Khác với tink duc (chỉ đề cập tới mi quan hệ giớ tính, là cái biểu hiện ra bên ngoai ca tink), tinh đục (sexuality) không phải là hành vi cụ thể mà là một hiện tượng văn hóa, đó là một tạo tác mang tính lịch sử (theo Foucault), Tính dục tồn tại trong tư cách là những điển ngón tính duc chỉ khi nó được tạo ra bởi những diễn ngôn nhằm hợp thức hóa những quan hệ quyền lực, những, tương tác xã hội và văn hóa để thực hiện một dự đồ nào đó của chủ thể sáng tạo.
Di ngôn tính dục được nhận điện dựa vào nội dung phát ngôn. Theo tiêu chí nội dung phát ngôn, điển ngôn tính dục đồng đẳng với diễn ngôn kì áo, diễn ngôn về bệnh điên, diễn ngôn hậu thực dân, diễn ngôn lịch sử, diễn ngôn nữ. quản, Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi đi đến một cách hiểu về điễn ngón tính dục trong văn chương như sau: Điển ngôn tinh duc chỉ chiến lược phát ngôn nghệ thuật, thể hiện trong các nguyên tắc cấu tứ, xây dựng cốt truyện, nhân vật, thế giới biểu tượng, sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu.lấy yếu tố tính dục làm phương tiện để nhằm thực hiện một dự đỗ nào đó của chủ thể sáng tạo, phát ra được tiếng nói mới, thể hiện tư tưởng mới trong chỉnh thể sáng tác Tiếp cận diễn ngôn tính dục ở một tác phẩm nghệ thuật là con đường tiếp. cân đời sống sâu kín của con người; bước vào tư tưởng thẩm mĩ, mô hình quan niệm con người, quan niệm về thế giới của chủ thể sáng tạo.
Bởi lẽ, “diễn ngôn. tính đục chỉ mang giá trị thẩm mĩ khi nó làm rõ đặc trưng văn hóa dân tộc; mang, giá trị văn học khi thông qua nó cốt truyện, tình tiết, biểu tượng được liên kết chặt chẽ nhằm tạo nên một thể giới nghệ thuật nhân bản” [75]. Việc tìm hiểu về diễn ngôn tính dục cũng giúp ta nhận thấy những nguyên nhân chiều sâu trong. 12 việc kiến tạo và hình thành nên những quan niệm về con người trong một thời đại cụ thể.
Tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú trong dòng chảy tiểu thuyết mang khuynh: hướng tính dục của văn học Việt Nam đương đại 1. Sự vận động của yếu tổ tính dục trong tiễu thuyết Việt Nam đương dai Có thể nói, vấn đề tính dục được nhìn nhận ra sao tùy thuộc vào thể giới quan của con người. Thế giới quan, nhân sinh quan của xã hội người phát triển và thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, điều đó kéo theo việc nhìn nhận. vẫn để tính dục cũng thay đổi theo.
Ở trong xã hội bẩy đàn nguyên thủy, tính dục chưa bị xã hội hóa, thiết chế hóa bởi luật pháp và đạo lí vì chưa có quan niệm sở hữu trong quan hệ tình dục. Từ khi tính dục gắn liễn với sở hữu thì hằng loạt các giá trị văn hóa của con người như hôn nhân, đạo đức gia đình, vai trò của huyết thống. cũng lần lượt nảy sinh. Kể từ đó, chế của đạo đức và luân lí Thời kì từ đầu thế ki XX đến năm 1945, trong văn chương, tính dục đã được khắc họa trong những chất liệu mới nhưng chưa hình thành nên một diễn ngôn mới hoặc có chăng thành diễn ngôn tính dục đi nữa cũng không được *phô diễn" công khai trên văn đàn.
Các tác phẩm như: #fà /fương phong nguyệt, “Người bán ngọc của Lê Hằng Mưu, Hà Hương hoa nguyệt của Nam Tang Tit, hay ngay cả các tác phẩm viết bằng chữ Hán (Hoa vién kj ngỏ) và chit Nom trước đó (Song Tinh) trước đó đều có sự xuất hiện của yếu tố tính dục. Yếu tố tính dục được miêu tả cận cảnh, chỉ tiế với một sức mạnh cám dỗ ghê gớm. Song những tác phẩm ở giai đoạn này chủ yếu miêu tả cảm giác và hành vi dục tính mà chưa kiến tạo một loại diễn ngôn mới về tính dục. Nghĩa là tính dục chỉ tổn tại đưới tư cách là những yếu tổ và nó được đánh giá, nhìn nhận trong tir trường của diễn ngôn đạo đức.