Chương 1. Truyện ngắn Kiệt Tắn trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam hải ngoại Chương 2. Những biểu hiện của con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn Chương 3. Một số phương thức biểu hiện con người cô đơn trong truyện ngắn Kiệt Tấn CHUONG 1 TRUYỆN NGAN KIET TAN 'TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HẢI NGOẠI 1.
Một số điểm nỗi bật của truyện ngắn Việt Nam hi 'Văn học Việt tại hải ngoại phát triển rắt phong phú và đa dạng về mặt thể loại. Trong đ‹ iêu biểu nhất có thể kể đến truyện ngắn. Truyện ngắn Việt Nam hải ngoại nhìn chung có một liểm nỗi bật như luôn luôn thể hiện sự. hoài niệm của những kẻ tha hương, nỗi buồn vong quốc của những phận người xa xứ.
Bên cạnh đó, đề tài “kẻ lạ” được các giả đặc biệt quan tâm, khai thác cùng với đó là cảm thức ly hương, cô đơn, lạc loài, hoài nghi về bản thân của những con người khi tiếp xúc với một nên văn bóa mới, những cơn người mới trong một môi trường xa lạ. Đồng thời, truyện ngắn Việt Nam hải ngoại còn đề cập đến một điểm nỗi bật khác là các tác giả đã chú ý hơn đến đề tài thích nghĩ và hội nhập vào trong các sáng tác của mình Điểm chủ đạo của truyện ngắnViệt Nam hải ngoại chính là hay dé cap đến sự hoài niệm, hồi nhớ quê hương. Đặc biệt, được thẻ hiện rõ nhất trong thời kỳ di tân đầu tiên của các nhà văn. Họ ra đi đều nằm trong tâm thể *lưu 10 vong bất đắc đĩ” nên trong tiềm thức của những con người di dân đó luôn.
nặng lòng thương nhớ về nguồn cội, quê hương bây giờ đã xa và chỉ tổn tại trong nỗi hoài hương vô vọng. Vì lẽ đó, hoài niệm chính là hướng về đất nước, về cội nguồn dân tộc, về quê hương, gia đình để nguôi di phần nào nỗi nhớ cố hương luôn đau đáu trong tâm hồn của những con người tha hương. “Chính thể, nên xu hướng hoài niệm luôn là điểm nhắn đặc biệt được thể hiện xuyên suốt trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại. Chủ đề hoài niệm được thể hiện trọn vẹn trong nhiều truyện ngắn của các tác giả Việt Nam hải ngoại.
Trong đó, tiêu biểu nhất có thể kể đến các tác giả “miệt vườn” như /Iồ ñzường An, Kiệt Tắn, Nguyễn Văn Sâm, đây đều là những gương mặt quen thuộc của văn học miền Nam sau năm 1975. nhà văn này đã mang đến cho nền văn chương Việt tại hải ngoại các truyện ngắn nôi bật như: Tắt này anh trở vẻ, Món ăn trên bước di tản, Câu hỏ [ân Tiên, Miễn man thiên lý, Trên kinh cờ đỏ. trong, sáng tác của những cây bút này, họ luôn nhấn mạnh đến con người, thiên nhiên, cảnh sắc thắm đượm. phong vị Việt Nam dưới góc nhìn của những con người sống lưu vong để thöa mãn nỗi nhớ quê hương đang cháy âm i trong lòng họ.
Truyện ngắn Việt Nam hải ngoại còn chú ý khai thác đến thân phận của. những kiếp sống di dân. Họ đều ra đi trong tâm thế và hoàn cảnh đặc biệt, khi đặt chân đến vùng đất mới tất thảy họ đều trải qua một cú sốc mạnh mẽ vẻ tỉnh thần khi phải tiếp xúc với một nền hiện thực mới mẻ, xa lạ và khó hiểu. Đặt chân đến vùng đắt mới có quá nhiều khác biệt, rào cản về ngôn ngữ và văn hóa nên những tha nhân đó luôn luôn cảm thấy bất lực trong việc hòa nhập vào cuộc sống mới đầy lạ lẫm nơi đây.
Họ sẽ sống như thế nào để thích. nghỉ với cuộc sống mới. Trong tâm thức của con người tha hương lúc nào cũng định sẵn mặc cảm "lưu đảy” không ai thừa nhận, nên đất nước mà họ đang sống hoàn toàn là một môi trường xa lạ. Nội dung này được ghi dấu đậm.
" nét trong các truyện ngắn của nhà văn Võ Phiến như hai tác phẩm Ly hương và Nguyên ven, Một đề tài thường thấy khác trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại là các tác giả đặc biệt quan tâm đến đẻ tài “kẻ lạ”. Trong thời gian đầu xoay sở. để thích nghi với cuộc sống mới, những kiếp lưu vong đều có tâm thức mình bị chối bỏ, họ rơi vào cảm giác vô định và trở thành “kẻ lạ” tại nơi mà họ. Lúc nào trong tâm thức của con người di dân luôn đau đầu vang lên câu hỏi đầy đau đớn “ta là ai, ta là gì giữa cuộc đời này”.
Chính vì xem. mình là một "kẻ lạ” nên những kiếp dĩ dân bé nhỏ đó tự lúc nào cũng cảm. thấy lạc loài và ấn sâu trong tâm hồn là một khối cô đơn nặng trĩu không ai có. thể thấu hiểu được.
Tâm trạng “kẻ lạ” lạc loài cô đơn này được thể hiện hầu. hết trong các truyện ngắn của Kiệt Tắn, Túy Hồng, Thanh Nam. Thích nghỉ - hội nhập cũng được xem là đề tài chính được thể hiện trong truyện ngắn Việt Nam hải ngoại. Nội dung này được các nhà văn thuộc.
thế hệ thứ hai và thứ ba - những người rời khỏi Việt Nam từ khi còn nhỏ hoặc. sinh ra và trưởng thành ở nước ngoài khai thác nhiễu hơn là các nhà văn thuộc. thế hệ di tân đầu tiên. Có thể kể đến những gương mặt nỗi bật ở mảng truyện ngắn như Lé Minh Hà, Thuận, Phan Nhiên Hạo, Đoàn Minh Phượng.
Trong tá phẩm của các nhà ù văn vã viết về đề tải hội nhập, nội dung được các tác giả thể hiện rat phong phú và đa dạng. Họ chủ yếu viết về cuộc sống hiện tại hơn là hướng về quá khứ như các nhà văn thuộc thể hệ cũ. Bởi lẽ, đây. là lớp nhà văn có một môi trường sống vô cùng rộng mở, không gian để sáng.
tác không chỉ giới hạn ở một quốc gia hay vùng lãnh thỗ mà nó đã mang tính chất toàn cẩu, tính chất của văn chương không biên giới. Họ ra đi và về liên tục giữa hai miền đất nước mà không bị những quy định ngặt nghèo về khoảng cách địa lý, không thời gian hay quy định của luật pháp cản trở như. những thế hệ nhà văn di tan đầu tiên. Do đó, mối quan hệ của các tác giả với 12 quê hương nói chung, văn học Việt Nam nói riêng không hẻ bị cắt đứt bởi họ luôn giữ một mạch ngằm với quê hương.
Vì thế, người đọc sẽ thấy cái nhìn, sự quan sát và phản ánh hiện thực xã hội, con người Việt Nam của lớp nhà văn này được đặt trong thế đa chiều, đa thanh, khách quan toàn điện với một tư duy hiện dại. Đặc biệt, chính những nhà văn này là một mắt xích quan trọng để đưa văn học Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt, con người Việt nói chung giao thoa với những nên văn hóa mới - nơi họ sống và làm việc. vậy, sự kết nối của các tác giả này với quê hương và nơi sống mới không hè bị mắt đi mà hơn thể chính họ đã thực hiện nhiệm vụ hội nhập văn hóa, văn học, đưa văn học Việt Nam gần hơn với quỹ đạo của văn học thể giới. 'Bên cạch đó, một bộ phận nhà văn đã chuyển sang sáng tác bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc các thứ tiếng khác với tư cách là công cụ sáng tác và giao tiếp.
Bởi lẽ, sự lựa chọn này giúp các tác giả hoà nhập nhanh chóng vào dòng chảy chung của văn học ở nước họ định cư và vào văn học thé giới. trường hợp của cây bút nữ “¿nd là một mình chứng điễn hình. Nhìn chung, bức tranh của truyện ngắn Việt Nam tại hải ngoại rất phong phú về màu sắc và đường nét. Đề tài thể hiện đa dạng và số lượng tác giả sáng tác ngày cảng đông đảo.
Chung quy, các tác giả hải ngoại đã phần nào tái hiện lại trong các tác phẩm của mình về sự đổi thay trong đời sống. tỉnh thần của những con người tha hương lưu vong và sự hoài iệm cố quốc. khi thương nhớ về nguồn cội nay chỉ tổn tại trong tâm tưởng. Đồng thời, bên canh khuynh hướng “hoài niệm” là sự “hội nhập” như một minh chứng cho sự.
đổi thay trong việc mỡ rộng biên độ đ ¡ của các tác giả truyện ngắn Việt Nam hải ngoại 1. Kiệt TẤn ~ khuôn mặt lạ của truyện ngắn Việt Nam hải ngoại 1. Hành trình sáng tạo của Kiệt Tắn “kẻ lưu vong bắt đắc dĩ” Kiệt ấn (tên thật là Lê Tắn KiệU. Ông sinh năm 1940 tại làng Vĩnh 3 Lợi -Bac Ligu.
Kigt Tn hoe tiéu hoe dén 10 tudi thi rời Bạc Liêu theo học trung học tại Vinh Long, Mỹ Tho (tú tài 1). Sau đó, ông chuyển đến Sai Gon học tú tải 2. Nam 19 tuổi, Kiệt Tan xuất ngoại du học tại Canada. Tại đây, ông đăng ký nhập học tại trường đại học Laval, Qiebéc.
Sau thời gian dài du học tại nước ngoài, năm 1963 Kiệt Tan trở về nước và làm việc tại Sai Gon voi tw cách chuyên viên (kỹ sư) ở Bộ kinh tế, Năm 1969, nhà văn nhập ngũ. Sau đó, công được biệt phái trở về làm việc tại nhiệm sở cũ. Năm 1973, Kiệt Tin được đề cử chức vụ Giám Đốc Định Chuẩn. Tháng 3 năm 1975, nhà văn xuất ngoại công tác tại Paris Tuy sống tại đất nước hoa lệ nhưng cuộc sống của gia đình Kiệt Tắn rat khó khăn.
Năm 1977 - chỉ sau hai năm định cư tại đây, Kiệt Tấn lâm vào. cảnh thất nghiệp; cùng lúc đó, tinh thần ông không được ồn định nên phải vào bệnh viện điều trị Nam 2009, Kiệt Tấn trở về thăm quê và cho in tập truyện Em điền xda tóc tại Sải Gòn. Năm 2010, ông cùng bạn hữu xúc tiến việc thành lập Thư Viện Hải Ngoại trên Intrernet để bảo tồn văn chương hải ngoại. Kiệt Tắn hiện cư ngụ tại Bagnolet thuộc ngoại ô Paris (Pháp) cùng gia đình.
'Hành trình sáng tạo của Kiệt Tắn, “kẻ lưu vong” bắt đắc dĩ, là một hành trình sáng tạo không liền mạch. Nó được chia làm hai thời kỳ. Trước năm 1975, khi mới 17 tuổi, Kiệt Tắn đã tập tành làm thơ và viết một số truyện ngắn. Trong đó, tiêu biểu nhất là truyện Bén dé trao tho va Dém cỏ tuyết.
Năm 1960, khi học ở Canada. Ông đã viết truyện ngắn đầu tay. "Người em xóm Học “Hình như truyện ngắn đầu tay tôi viết về Diana, người em xóm học, khi tôi từ Paris trở về Qúebéc năm 1961, không còn nhớ rõ tựa, 4 dang trên nội san Đắt Lạnh số 1 của nhóm sinh viên Việt du hoc tai Quebec chủ trương” [27, tr. Nối tiếp Người em xóm Học, Kiệt Tắn còn ra mắt.
bạn đọc hai truyện ngắn khác là Yêu em xứ tuyết và Em đến mùa trăng cuối vào năm 1961.