Chương I: _ Chùa Nam Dư Hạ trong không gian văn hóa Nam Dư Hạ. Chương 2: _ Giá trị Văn hoá nghệ thuật của chùa Nam Dư Hạ. Chương3: - Chùa Nam Dư Hạ trong đời sống văn hóa của cư dân địa phương, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích hiện nay. lL Chuong 1 CHUA NAM DU HA TRONG KHONG GIAN VAN HOA NAM DUHA 1.
TONG QUAN VE LANG NAM DU HẠ 1. í địa lý và điều kiện tự nhỉ: Chùa Nam Dư Hạ hiện nay thuộc thôn Nam Dư Hạ phường Trân Phú quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội. Quận Hoàng Mai nằm ở phía Đông Nam thành phố Hà Nội có diện tích là 4.1ha (4Ikmˆ), có đường giao thông thủy trên sông Hồng, có nhiều đường giao thông bộ quan trọng đi qua: Quốc lộ 1A, 1B; đường vành đai 3; câu Thanh Trì; đường vành đai 2 và vành đai 5. Địa giới hành chính của quận: phía Đông giáp huyện Gia Lâm: phía Tây giáp huyện Thanh Tủ, phía Bắc giáp quận Thanh Xuân, phía Nam ip quận Hai Bà Trưng.
Quận bao gồm 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Trân Phú, Hoàng Liệt, Yên Sở, Vĩnh Hưng, Định Công, Đại Kim, Thịnh Liệt, Thanh Tri, Lĩnh Nam, Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ. Xóm làng Trần Phú chạy dài theo bờ sông Hồng, phía Bắc và Đông giáp xã Lĩnh Nam (thuộc Nam Dư Thượng), Tây giáp xã Yên Sở, Nam giáp sông. Hồng, bên kia sông thuộc xã Văn Đức, huyện Gia Lâm Thon Nam Dư Hạ xưa kia thuộc làng Nam Dư, ngay tên gọi "Nam Dư" đã nói lên được vị trí cũng như. điều kiện vẻ tự nhiên của vùng đất “Du” trong tir dién Hán - Việt có nghĩa là đất tốt, giàu có, của “Nam Dư” có nghĩa là vùng đất tốt được cây ải, có ủa cải dư thừa nằm phía Nam kinh thành Thăng Long.
Nghĩa *Thượng” và “Hạ”, ở đây có nghĩa phân chia giữa làng trên và làng dưới mà thoi. Từ trung tâm thành phố vẻ phía Nam, xuôi hết phố Bà Triệu thì rẽ trái vào đường Trần Khát Chân, đến ngã tư thứ nhất rẽ phải và đi hết phố Bạch 12 Mai rồi rẽ trái sang đường Minh Khai là tới cầu Mai Động. Qua cầu rẽ luôn vào đường Tam Trinh rồi ngoặt vào đường Lĩnh Nam. Đi dọc đường Linh Nam khoảng 3 km, rẽ bên phải là phố Tây Trà, đi vào khoảng 500m sẽ tới chùa Nam Dư Hạ nằm trên đường Trân Phú.
Nam Dư Hạ là một vùng đất vừa có ruộng ở trong đồng, vừa có đất bãi ngoài đê được phù sa sông Hồng bồi dap nên cánh bãi quê hương luôn màu mỡ. Khi xưa, Nam Dư Hạ thuộc một vùng của Nam Dự, là vùng đất rộng, phía ngoài bờ đê sông Hồng. Trong quá khứ, nơi đây đã từng tồn tại một bến sông. có tên là bến Nam Dư, sau này bến sông trở thành bến phà Khuyến Lương.
Bến sông Nam Dư được nhắc đến trong sách “Hoàng Lê Nhất Thống Chí như một vị trí chiến lược vẻ quân sự. Không những vậy, bến sông. còn là nơi có phong cảnh đẹp, trên bến dưới thuyển tấp nập người qua kẻ lại. Sách *Thăng long cổ tích khảo tịch hội đổ” do Viện Viễn đông bác cổ biên soạn cho biết: khi vịnh tám cảnh đẹp ở Thăng Long (Thăng long bát cảnh) vào thời Lê, tác giả đã nhac đến cảnh đẹp của bến sông Nam Dư trong bài “Thanh.
trì vấn tân” (Thăm bến sông Thanh Trì). Nam Dư Hạ vốn có một cảnh quan khá đẹp, trước cửa Đình Nam Dư Hạ xưa kia là một dòng sông có tên gọi là sông Huệ, sông này chảy theo bờ đê sông Hồng. Ca dao cổ có câu: “Hai cô thắt lung bao xanh Về Nam Dự Hạ với anh thì về Làng anh có ruộng tứ bê Có sông tắm mát có nghề quay tơ ” [7. Hiện nay, Nam Dư Hạ những di tích mang dấu ấn của những kỳ tích như: đồng Đế, đồng Phủ, đường Hội, miếu Bóng.Khi làm thủy lợi đã thu 13 được tién kẽm và những mảnh gốm cổ.
không những nói lên đây là vùng đất cổ mà còn ghỉ lại nơi đây Nhà nước phong kiến đã từng chọn làm cung điện. Lich sit thay de ịa giới và tên gọi Dựa theo các tài liệu khảo cổ và địa chí lưu truyền thì Nam Dư Hạ hình thành từ một thôn của Nam Dư vào đầu thế kỷ XV |46, tr. Vùng đất Nam Dư xưa có tên Tây Trà, sau có tên kẻ Dựa. Từ "kẻ" là tên nôm chỉ đơn vị làng xóm xa xưa của người Việt cổ sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ cách đây hàng ngàn năm [6, tr.
Tương truyền vẻ tên nôm kẻ Dựa: Nam Dư là một làng cổ được khai phá từ sớm và trù phú. Nhưng vào nửa cuối thế kỷ XVII có bà chúa Tây, có lẽ là vợ Tây Vương Trịnh Tạc (1657 ~ 1681), đã cướp toàn bộ ruộng đất của Nam Dư, đẩy người dân vào cảnh cơ cực khốn cùng. phải di an xin, làm thuê làm mướn khắp nơi, phải sống dựa, sống nhờ vào bàn dân thiên hạ. Sống trong uất ức, người dân đã từng thốt lên: “Chỉ vì có bà chúa Tây Để cho kẻ Dựa ăn dây bìm bỳn/ mang đây bude dim”.
Bởi có lý do trên khiến có một số ý kiến cho rằng, đây là nguyên nhân sinh ra cái tên tục không lấy gì làm đẹp đẽ của kẻ "Dựa”. Song theo lời của một số cụ cao tuổi trong làng kể lại: nằm bên kia sông Hồng có một ngôi làng lớn tên là Đông Dư. Xưa kia, không biết vì lý do gì mà ngôi làng này đã hình thành một bộ phận dân cư vượt sông Hồng, sang lập nghiệp ở địa phận huyện Thanh Trì làng Nam Dư, nay thuộc Lĩnh Nam (quận Hoàng Mai). Lúc đầu những cư dân mới này luôn sống dựa nhờ vào sự tương trợ của làng gốc và có lẽ vì vậy nên làng này đã có cái tên Nôm là làng "Dựa".
Cách lý giải này có phần hợp lý, vì khi xét hai câu thơ trên thì chúng tôi nhận thấy "bà chúa Tây" là nguyên nhân dẫn đến cảnh nghèo khó của người dân kẻ "Dựa". Cái tên “Dựa” dường như đã xuất hiện từ trước khi có bà chùa Tây. 14 Thời Lý - Trần, Nam Dư xưa thuộc về huyện Long Đàm - Châu Thượng. Phúc thuộc đạo Sơn Nam.
Theo “Sit hoc bi khảo”4]: thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc thứ V (1407), có sự đổi tên các châu, phủ, huyện: huyện Long Đàm đổi thành huyện Thanh Dam — châu Thượng Phúc đổi thành châu Phúc An, phủ Giao Châu. Thời Lê Trung Hưng (1533 - 1789) vì ky húy vua Lê Thế Tông (Lê Duy Đàm) mà phải đổi Thanh Đàm thành Thường Tín. Khi vua Lê Thánh Tông chia lại các đơn vị hành chính cả nước, lập lại các Thừa tuyên là đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, Nam Dư thuộc vẻ huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, thừa tuyên Sơn Nam. Đời Lê Cảnh Hưng, đổi thừa tuyên thành trấn, chia Sơn Nam thành hai trấn Thượng và Hạ, Nam Dư thuộc vẻ trấn Sơn Nam Thượng.
Đâu thế kỷ XIX, Nam Dư Hạ là thôn Hạ xã Nam Dư thuộc tổng Thanh Thì, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng. Địa danh nay đã tôn tại suốt một thời gian đài và được nhiều tài liệu, thư tịch và di vật cổ nói đến: ím bia “Gid ky bị ký” dựng năm Thiệu Trị Nguyên niên (1840) hiện lưu giữ tại chùa Nam Dư Hạ có ghi : "Thường Tín phủ, Thanh Trì huyện, Nam Dư xã, Hạ thôn”. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh đã chia đất nước thành nhiều tỉnh khác khau, Thường Tín của trấn Sơn Nam đặt làm tỉnh Hà Nội. Khi đó, Nam Dư trở thành một xã thuộc tổng Thanh Tri, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội.
Sách “Hà Nội địa ba” bien soan nam 1886 (hiện lưu tại thư viện Viện Hán Nôm) và tài liệu của chính quyền thuộc địa cũng ghỉ như vậy. Tại kho lưu trữ thuộc Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, một tài liệu tiếng Pháp là *Monographie de la Province de Hanoi en 1901 (Địa chí tỉnh Hà Nội năm 1901) cũng ghỉ Nam Dư thuộc vẻ tỉnh Hà Nội. 15 Đâu thế kỷ XX, Nam Dư Hạ thuộc tổng Thanh Trì, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Khi người Pháp lập ra Đại Lý Hoàn Long.
một đơn vị hành chính ngang một phủ trực thuộc thành phố Hà Nội, Nam Dư Hạ thuộc Đại Lý Hoàn Long. Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyển nhân dân để ra các làng xã của Đại Lý Hoàn Long thuộc thành phố Hà Nội, thành lập các đơn vị hành chính gọi là khu như ở nội thành. Nam Dư Hạ lúc này thuộc Mê Linh. Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Nam Dư Hạ thuộc quận 6, ngoại thành Hà Nội.
+ Năm 1954, hòa bình lập lại, Nam Dư Hạ thuộc thôn Quỳnh Lôi, rồi đổi thành quận 7 ngoại thành Hà Nội. + Năm 1956: Nam Dư Hạ hợp với Khuyến Lương, Yên Lương thành xã Trân Phú. + Năm 1961, xã Trân Phú thuộc về huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội. Từ năm 2003, Nam Dư Thượng thuộc phường Lĩnh Nam, Nam Dư Hạ thuộc phường Trần Phú, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Tên gọi phường Trần Phú còn có ý nghĩa đặc biệt, Trần Phú là người xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con nhà Nho nghèo, yêu nước. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và đã có nhiều đóng góp cho cách mạng. Ông là người viết bản luận cương chính trị của Đảng và được bầu làm Tổng bí thư của Đảng Cộng Sản Đông Dương, trong Hội nghị trung ương lần thứ nhất.
Tên của Ông đã được chính quyền và nhân dân nhiều địa phương chọn làm tên gọi cho địa phương mình. Đời sống kinh tế Nam Dư Hạ được bắt nguồn từ Nam Dư, vốn là một làng cổ được khai phá từ sớm và trù phú ở ven sông Hồng, nhờ sự ưu đãi của thiên nhiên mà có 16 những cánh bãi màu mỡ, đây là điều kiện tốt cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Sách *Đổng Khánh dư địa chí” có viết về kinh tế địa phương như sau: *Nhiêu lúa thu, it lia hè. Đất bãi ngoài đẻ phân nhiều trồng dâu, mía, khoai, đậu, đưa, c ” Nghề trồng lúa là nghề căn bản của nhân dân địa phương, nông dân Nam Dư rất cần cù, chịu khó.
Nghề trồng dâu nuôi tầm ở Nam Dư Hạ đã có từ rất lâu đời, từ thủa hình thành làng xã, nay không còn gia đình nào ở địa phương làm nghẻ này nữa.