Chương 1: Cơ sở lí luận chung Chương 2: Tư tưởng sinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh Chương 3: Nghệ thuật thể hiện tư tưởng sinh thái trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh 7 Chƣơng 1 VĂN XUÔI SINH THÁI SAU NĂM 1975 VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA NHÀ VĂN SƢƠNG NGUYỆT MINH 1. Các khái niệm tiền đề 1. Sinh thái học – ý thức sinh thái Thuật ngữ Sinh thái học (Ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm hai phần, là "Oikos" chỉ nơi sinh sống, và "Logos" là học thuyết. Như vậy Sinh thái học là học thuyết về nơi sinh sống của sinh vật, là môn học về quan hệ tương hỗ sinh vật và môi sinh.
Vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra đối tượng của Sinh thái học là tất cả các mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống với môi trường. Rồi từ đó có cách tiếp cận khác, như Sinh thái học là khoa học về môi sinh (Environmental Biology). Những kiến thức của Sinh thái học đã và đang đóng góp to lớn cho nền văn minh của nhân loại trên cả hai khía cạnh, lí luận và thực tiễn. Sinh thái học giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố của môi trường, cả hiện tại và quá khứ, trong đó bao gồm cuộc sống và sự tiến hoá cua con người.
Sinh thái học còn tạo nên những nguyên tắc và định hướng cho hoạt động của con người đối với tự nhiên để phát triển nền văn minh ngày một hiện đại, không làm huỷ hoại đến đời sống của sinh giới và chất lượng của môi trường. Con người là thành viên tích cực hay tiêu cực của mỗi hệ sinh thái nhất định. Sự phồn vinh của loài người gắn liền với sự phồn vinh của các hệ sinh thái đó. Con người cũng không thể tránh khỏi tai hoạ khi môi trường bị tàn phá và suy kiệt, vì thế cần phải đấu tranh chống ô nhiễm môi trường và bảo vệ sinh quyển.
Sinh thái học hiện đại không chỉ là cơ sở khoa học mà còn là phương thức tiếp cận chiến lược phát triển bền vững của xã hội con người và của hệ thái dương bao la. Sinh thái và môi trường còn là phương tiện giúp ta 8 tối ưu hoá việc sử dụng các nguồn tài nguyên quy hoạch lãnh thổ tổng thể phát triển lâu bền. Nó giúp ta dự đoán những biến đổi môi trường trong tương lai, nhìn nhận lại những khả năng thực sự của con người, thấy được những tác động bất lợi của con người lên môi trường. Từ đó tìm mọi biện pháp hữu hiệu ngăn chặn cuộc khủng hoảng môi trường, cứu lấy hành tinh của chúng ta.
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “sinh thái” là khái niệm dùng để chỉ quan hệ giữa sinh vật và môi trường. Con người, xét về mặt tiến hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, là sản phẩm của tự nhiên - một sinh vật có tổ chức cao nhất của vật chất. Theo đó, khái niệm sinh thái không chỉ nói đến các đối tượng: sinh vật và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu nhấn mạnh đến quan hệ của các đối tượng ấy trong chỉnh thể sinh thái. Quan hệ đó có tính chất hai chiều, tác động qua lại với nhau, phụ thuộc chặt chẽ vào nhau và có tính bình đẳng giữa sinh vật và môi trường.
Các sinh vật tồn tại trong tự nhiên bao gồm cả động thực vật và con người. Vì thế, để hệ sinh thái phát triển một cách hoàn chỉnh và bền vững cần có sự tác động tích cực của bàn tay con người bởi con người là động vật cao cấp nhất, có can thiệp sâu nhất vào môi trưởng tự nhiên. Nếu con người can thiệp vào tự nhiên một cách thô bạo sẽ dẫn đến những nguy cơ sinh thái tiêu cực. Sự xuống cấp của hệ sinh thái sẽ tác động ngược trở lại vào đời sống con người, điều này cũng khiến cho hệ sinh thái mất ổn định, nói cách khác, nó sẽ khiến cho mối quan hệ giữa các sinh vật nói chung và con người nói riêng với môi trường mất cân bằng và bất ổn.
Khi mối quan hệ giữa con người và môi trường không được điều hòa tất yếu sẽ xảy ra những xung đột dẫn đến những hậu quả không mong muốn về mặt môi trường sống, ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống của con người và các sinh vật khác trong hệ sinh thái. Từ sinh thái và sinh thái học, các học giả đã triển khai thành một quan niệm giá trị mới, phản ánh sự phát triển hài hòa giữa con người với tự nhiên. 9 Đó là ý thức sinh thái (Ecological consciousness). Phạm Thị Ngọc Trầm đã chỉ ra ý thức sinh thái là “sự nhận thức một cách tự giác của con người về tự nhiên (các yếu tố của tự nhiên và quy luật hoạt động của chúng), về vị trí, vai trò của con người trong mối quan hệ với tự nhiên và về trách nhiệm, nghĩa vụ của con người trong việc điều khiển một cách có ý thức mối quan hệ đó hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của xã hội và sự đồng tiến hóa giữa xã hội và tự nhiên” (Tạp chí Triết học, số 3, 2002).
Trong Rừng khô, suối cạn, biển độc … và văn chương, Nguyễn Thị Tịnh Thy đã thể hiện ý thức sinh thái nhấn mạnh con người và tất cả các sinh mệnh khác đều là những thành viên bình đẳng trong hệ thống đại tự nhiên, nhân loại không phải là chủ nhân của tự nhiên, tự nhiên cũng không phải là nô lệ hoặc đối tượng tiêu dùng của nhân loại. Quan hệ giữa con người và tự nhiên là quan hệ phát triển hài hòa,cộng sinh, cùng có lợi. Trước thực trạng môi trường sinh thái đang bị khủng hoảng, việc nâng cao ý thức sinh thái vô cùng cần thiết. Con người cần chung sống hài hòa với tự nhiên, đề xướng văn minh sinh thái, những nhà khoa học nhân văn đã nghiên cứu khoa học nhân văn từ góc nhìn sinh thái, trong đó bao gồm cả những người nghiên cứu văn học.
Những nhà nghiên cứu này sẽ nhìn nhận lại ý thức sinh thái trong tác phẩm văn học, nghiên cứu sự phát triển của việc sáng tác lẫn nghiên cứu văn học dẫn đến sự ra đời của văn học sinh thái và phê bình sinh thái. Sinh thái nhân văn Viện trưởng Viện Tài nguyên và môi trường Hoàng Văn Thắng cho biết: Sinh thái nhân văn là khoa học nghiên cứu quan hệ giữa con người và môi trường thiên nhiên ở mức độ hệ thống. Bao gồm hệ xã hội và hệ tự nhiên (hệ sinh thái).TS Lê Trọng Cúc, người có đóng góp rất lớn và góp phần đưa ngành khoa học sinh thái nhân văn vào Việt Nam giải thích “Sinh thái 10 nhân văn là khoa học dựa trên nguyên tắc quan hệ có hệ thống giữa xã hội loài người (hệ xã hội) và môi trường thiên nhiên (hệ sinh thái) làm thành hệ thống sinh thái nhân văn. Mục đích nghiên cứu của sinh thái nhân văn là tìm hiểu và nhận biết các đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các hệ thống này với nhau và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ xã hội và hệ sinh thái.
Hệ sinh thái nhân văn tập hợp sự tác động của các nhân tố bao gồm dân số, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, chính trị và các đối tượng xã hội khác như giá trị, nguyện vọng, đạo đức, với các điều kiện môi trường tự nhiên làm nảy sinh ra các quy luật động thái thống nhất tự nhiên – xã hội. Tự nhiên và xã hội liên kết chặt chẽ trong khuôn khổ của một hệ thống sinh thái nhân văn hoàn thiện, mà hệ thống đó đã trải qua quá trình lịch sử tiến hóa của tự nhiên và sự phát triển của xã hội loài người. Sinh thái nhân văn nghiên cứu ở mức độ hệ thống toàn vẹn, trang bị cho nó vũ khí để có thể đương đầu với các vấn đề môi trường ngày càng tăng lên và các hệ thống tự nhiên – xã hội luôn luôn thay đổi” (theo Nguyễn Thanh Hóa, Khai mở ngành sinh thái nhân văn ở Việt Nam). Sinh thái học nhân văn là bộ môn khoa học liên ngành, nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa con người với các hình thái xã hội của loài người, với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo khác do con người tạo ra.
Sinh thái học nhân văn khảo sát xem các hệ thống xã hội của loài người có liên quan và tác động tương hỗ như thế nào với hệ thống các hệ sinh thái mà chúng phụ thuộc vào. Xây dựng ý thức sinh thái là cách tiếp cận mới giúp giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa xã hội và tự nhiên. Việc tìm hiểu sinh thái học nhân văn sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ về các vấn đề môi trường và nguy cơ sinh thái. Từ đó, con người cần phải thay đổi cách ứng xử với tự nhiên, phải lựa chọn cách ứng xử cho hợp lí để giải 11 quyết xung đột giữa nhu cầu sống, nhu cầu môi trường trong sạch và cố gắng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.
Quan tâm đến môi trường thực chất là quan tâm đến các giá trị nhân văn và sự phát triển bền vững. Bảo vệ sinh thái chính là bảo vệ con người. Chủ nghĩa nhân văn sinh thái do phê bình sinh thái đề xuất không tách rời tự nhiên với con người mà hòa hợp con người với tự nhiên, con người là một phần cộng sinh của tạo hóa. Khuynh hƣớng văn xuôi sinh thái sau năm 1975 1.
Khái lược văn xuôi sau năm 1975 Văn học từ sau năm 1975 đã tồn tại và phát triển trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử và xã hội khác biệt so với thời chiến tranh. Điều này đã phát huy cá tính sáng tạo mạnh mẽ của các nhà văn, nhà thơ. Có thể nói rằng, so với thơ thì văn xuôi giai đoạn này chiếm vị trí ưu trội. Khoảng 5 năm đầu, dư âm của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và tác động của hai cuộc chiến tranh biên giới khiến cho văn xuôi cơ bản “trượt theo quán tính cũ” (Nguyên Ngọc).