MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong ba bình diện của câu, bình diện ngữ nghĩa có vị trí đặc biệt quan trọng. Thực chất của ngôn ngữ học chính là tìm hiểu nghĩa, cái được biểu đạt của nó. Như vậy, việc nghiên cứu nghĩa biểu hiện của câu có ý nghĩa quan trọng đối với việc hiểu sâu chức năng phản ánh của câu nói riêng, của ngôn ngữ nói chung.
Cấu trúc nghĩa biểu hiện đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp học hiện đại quan tâm đến trên các phương diện: - Đặc điểm ngữ nghĩa, kết trị của nhóm hoặc tiểu nhóm vị từ hành động, quá trình, tư thế, trạng thái; - Sự phân biệt vị từ động - vị từ tĩnh và sự chuyển loại từ vị từ động sang vị từ tĩnh, từ vị từ tĩnh sang vị từ động; - Mối quan hệ giữa kết trị và nghĩa của vị từ, sự hiện thực hóa kết trị của vị từ trong ngôn bản; - Tiêu chí xác định các vai nghĩa của vị từ; - Các vai nghĩa Đắc lợi thể, vai nghĩa Công cụ, vai nghĩa Mục tiêu, vai nghĩa Không gian, Thời gian,. và sự biểu hiện ngữ pháp của chúng. Mặc dù đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm xem xét hoặc ở góc độ này hoặc ở góc độ khác nhưng đến nay, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghĩa biểu hiện của câu còn rất ít. Trong một số công trình nghiên cứu về cú pháp và ngữ nghĩa của câu, còn có sự nhầm lẫn nghĩa biểu hiện với nghĩa cú pháp, các tham thể (vai nghĩa) trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với các thành tố cú pháp.
Riêng tham thể đứng trước vị từ là tham thể chủ thể hầu như chưa được lấy làm đối tượng nghiên cứu trung tâm hoặc nếu có thì diện nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở việc xác định, thống kê những đặc điểm tiểu loại với vai trò là kiểu kết trị bắt buộc của vị từ. Do vậy, chúng tôi chọn đề tài Vai nghĩa chủ thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu đơn tiếng Việt làm đối tượng nghiên cứu trong 2 luận văn với mong muốn đưa ra những kiến giải về quan hệ tương tác ngữ pháp - ngữ nghĩa của tham thể chủ thể với vị từ và với sự tình trong câu đơn tiếng Việt. Lịch sử nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu về cấu trúc nghĩa biểu hiện 2.
Trên thế giới Ngữ pháp chức năng cho rằng câu được dùng với ba chức năng khác nhau và ở mỗi chức năng có một cách tổ chức đặc thù. Theo đó thì chức năng biểu hiện có cấu trúc nghĩa biểu hiện, chức năng liên nhân có cấu trúc thức, chức năng văn bản có cấu trúc đề - thuyết. Chức năng biểu hiện trong câu là trình bày những sự tình trong các lĩnh vực mà con người nhận biết được qua kinh nghiệm của mình. Nghĩa biểu hiện của câu đề cập đến sự tình của thực tế khách quan.
Cốt lõi (hạt nhân) của sự tình là một vị từ. Tùy thuộc vào loại vị từ hạt nhân, các tham thể đóng những vai nghĩa nhất định. Cả vị từ hạt nhân và các tham thể tạo nên cấu trúc của sự tình, xác định loại sự tình. Sự tình là vật, việc, hiện tượng được phản ánh trong câu, thuộc chức năng nghĩa biểu hiện của câu chứa vị từ.
Sự tình được hiểu như một sự kiện động hay một tĩnh trạng, đó là ý niệm về điều được nói tới trong hiện thực khách quan. Dik, sự phân biệt cơ bản giữa các sự tình được thể hiện trên hai đặc trưng có [+] và không [-] giữa hai chiều của sự đối lập về tính + động và + chủ động (chủ ý). Trong ngữ pháp chức năng, thuộc tính + động của thực thể được hiểu là có sự biến đổi, thuộc tính - động của thực thể được hiểu là không có sự biến đổi ở bất kỳ thời điểm nào trong suốt thời gian thực thể tồn tại trong sự tình. Thuộc tính + chủ động là phạm trù bao gồm cả sự chủ ý chứ không đồng nhất, cho nên, nếu như chủ ý có thể gắn với con người thì + chủ động có thể gắn với người và động vật.
Nói cách khác, tính + chủ động luôn đòi hỏi phải gắn với chủ thể có tri giác. Riêng thuộc tính - chủ động là phạm trù rộng hơn, có thể gắn với người, động vật, bất động vật. Sự phân biệt động - tĩnh đặt trên hai phương diện: 3 phương diện thứ nhất là sự phân biệt giữa những sự tình động là những biến cố, những sự thay đổi có thể xảy ra, diễn ra với những sự tình tĩnh là những tình thế, trạng thái, tính chất có thể kéo dài, nghĩa là có thể tồn tại ở các sự vật trong một thời gian được tri giác là có chiều dài và phương diện thứ hai là sự phân biệt giữa các sự tình diễn ra hay tồn tại do sự chủ động, có sự tự điều khiển của một (những) con người hay động vật với những sự tình không do sự chủ động mà ra. Hai đôi tiêu chuẩn được chia thành ba bậc: Bậc 1: Áp dụng tiêu chuẩn [ động ] Các sự thể [+ động] được gọi là Biến cố.
Các sự thể [- động] được gọi làTình thế. Bậc 2: Áp dụng tiêu chuẩn [ chủ động] [+Chủ động]: Tư Thế Tình thế [- Chủ động]: Trạng Thái [+Chủ động]: Hành động Biến cố [- Chủ động]: Quá trình Bậc 3: Áp dụng tiêu chuẩn Thành quả đổi[+Thành quả]: Hành động đã hoàn Hành động thành Thành quả]: Hành động đang thực hiện [+Thành quả]: Biến Quá trình [- Thành quả]: Biến động[- 4 Có thể tổng kết bằng lược đồ cách phân loại sự tình theo ba bậc này như sau: Sự tình [- động] [+ động] Tình thế Biến cố [+ Chủ động] [- Chủ động] [+ Chủ động] [- Chủ động] Trạng thái Hành động Quá trình Tư thế [+ Tquả] [- Tquả] [+ Tquả] [- Tquả] Đã hoàn thành Đang thực hiện Biến đổi Biến động S. Dik cũng nhấn mạnh: “một cấu trúc chủ vị hạt nhân (nuclear predication) xét toàn bộ biểu thị một sự tình (State of affairs) được xác định bởi cái thuộc tính hay mối quan hệ do vị ngữ biểu thị liên kết các thực thể do danh tố biểu thị” (Dẫn theo[59, tr 47]). Từ đó, ông xác định các chức năng nghĩa do các tham thể biểu thị gồm các tham thể hạt nhân: Tác thể (Agent), Đích (Goal), Tiếp thể (Recipient), Hướng (Direction), Nguồn (Source), Kẻ mang tư thế (Positioner), Vị trí (Location), Kẻ chịu tác động của quá trình (Processer), Lực (Force); các tham thể mở rộng: Phương thức, Đặc trưng, Công cụ, Lợi thể, Liên đới thể, Thời gian, Thời đoạn, Tần số, Vị trí, Nguồn, Phương hướng, Lối đi, Chu cảnh, Nguyên nhân, Lí do, Mục đích, Kết quả.
Khẳng định vai nghĩa của các thực thể trong việc quyết định sự tình mà nó tham gia vào thuộc loại nào, sau khi phê phán sự phân loại các sự thể của Vendler, M. Halliday là sự ngộ nhận bởi thực chất các tiêu chí phân loại mà hai nhà ngôn ngữ học đưa ra vẫn chỉ là phân loại vị từ chứ không phải phân loại sự tình, “Dik đã có một khuyến cáo rõ ràng về sự ngộ nhận này, khi cho rằng, tuy không phủ nhận vai trò của vị từ trung tâm trong việc phân loại sự tình nhưng 5 sự phân loại trên đây là sự phân loại cho cả sự tình nói chung, bởi lẽ sự thay đổi ở các vai nghĩa sẽ dẫn đến sự thay đổi sự tình ” (Dẫn theo [22, tr. Mỗi câu trình bày một sự tình trong lĩnh vực mà con người nhận biết được thông qua kinh nghiệm của mình. Sự tình có thể mang tính chất động hoặc tĩnh và có thể thuộc nhiều lĩnh vực vật chất, tinh thần, quan hệ trừu tượng khác nhau.
Nghĩa biểu hiện, theo M. Halliday được xác định trong cấu trúc của câu như là sự thể hiện và bao gồm các khái niệm chính như quá trình, tham thể và chu cảnh. Các khái niệm này là những phạm trù ngữ nghĩa giải thích một cách khái quát nhất các sự tình của thế giới hiện thực. Halliday chia tất cả các sự tình vào ba thế giới (khu vực): - Các thế giới vật lý - Thế giới nội tâm con người (thế giới ý thức) - Thế giới của các quan hệ trừu tượng Ba thế giới này gồm có: - Các sự việc thuộc về vật chất - Các sự việc thuộc về tinh thần - Các sự việc chứa quan hệ trừu tượng Tuy nhiên, sự phân biệt trên không phải lúc nào cũng rạch ròi mà giữa chúng có vùng những sự việc trung gian rất phức tạp.
Tất cả các vùng trung tâm và vùng trung gian cùng nhau tạo thành “một vòng tròn nối tiếp khép kín”. Vòng tròn liên tục phản ánh tính phức tạp của vạn vật và của mối quan hệ giữa thế giới vật chất và thế giới tinh thần. Halliday dùng thuật ngữ quá trình thay cho thuật ngữ vị từ để gọi cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là cấu trúc quá trình - tham thể và khẳng định“một quá trình gồm ba thành phần: (i) chính quá trình (ii) các tham thể trong quá trình (iii) các chu cảnh liên quan đến quá trình Những thành phần này cung cấp khung tham chiếu để giải thích kinh nghiệm 6 của chúng ta về những gì đang diễn ra” [26, tr 208]. Quá trình là trung tâm của sự tình.
Các tham thể trong quá trình gồm: Động thể (Actor), Đương thể (Carrier), Phát ngôn thể (Sayer), Cảm thể (Senser), Đích thể (Goal), Tiếp thể (Recipient),Tiếp ngôn thể (Receiver), Ngôn đích thể (Target), Đắc lợi thể (Beneficiary), Bị hại thể (Maleficiary), …. Các chu cảnh liên quan đến quá trình gồm: Khoảng cách (Distance), Thời hạn (Duration), Vị trí (Place), Thời gian (Time), Phương tiện (Means), Chất lượng (Quality), So sánh (Comparision), Nguyên nhân (Cause), Mục đích (Purpose), Điều kiện (Condition), Nhượng bộ (Concession), … .Cấu trúc quá trình - tham thể của M. Halliday bao gồm cả bốn loại sự tình Hành động, Quá trình, Tư thế, Trạng thái. Dựa trên những kết quả của hai nhà ngữ pháp chức năng là S.
Halliday, cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu giúp người giao tiếp biểu hiện cách nhìn nhận của mình về thế giới thông qua một cấu trúc. Trong cấu trúc này nổi bật lên một yếu tố trung tâm là vị từ và các tham thể xung quanh vị từ, do vị từ chi phối. Vai trò trung tâm của vị từ quan trọng đến nỗi, chỉ cần dựa vào vị từ có thể phân biệt được các các kiểu sự tình và tham thể. Tuy nhiên, các tham thể cũng có ảnh hưởng đến việc xác định kiểu loại vị từ và sự tình.
Vậy làm thế nào để xác định được mỗi tham thể đảm nhiệm chức năng nghĩa gì trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu?