phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TỪ THIỆN XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO VÀ PHẬT GIÁO KIÊN GIANG 1. Lý luận chung về công tác từ thiện xã hội của Phật giáo 1.
Một số khái niệm "Từ" (Mettà): “Một trong những đức hạnh cao quý trong Phật giáo, thường được gọi chung với lòng – Bi là Từ Bi. Từ được xem là lòng thương yêu chúng sinh nhưng không có tính chất luyến ái. Từ là một trong những đối tượng thiền định của Thượng tọa bộ được dùng để phát huy lòng thương yêu và đối trị sân hận” [1, tr. Từ cũng có nghĩa là lòng lành giúp ích cho người, lòng thương yêu, thường đem vui cho tất cả chúng sinh.
“Tâm từ" là cái gì làm cho lòng êm dịu, là lòng mong ước cho tất cả chúng sinh đều được an lành vui vẻ. Tâm từ là lòng mong mỏi chân thành của người bạn hiền muốn cho bằng hữu mình được an vui hạnh phúc [Xem 34]. Thiện là điều tốt. “Từ thiện” là một hành động trợ giúp người yếu kém.
Hoạt động từ thiện có thể thông qua hình thức quyên góp, hiến tặng bằng tiền, vật phẩm, thời gian hay là cứu trợ nhân đạo, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc sức khỏe hay là những hành động trợ giúp tinh thần như an ủi [Xem 35]. Từ thiện được chuyển theo nghĩa là sự giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, thường được hiểu là một hệ thống biếu tặng tiền bạc, thức ăn, giúp đỡ những người đang cần giúp đỡ vì họ đang bệnh hoạn, nghèo khổ, không nơi nương tựa… Trong ý nghĩa này, từ thiện là sự thể hiện của Từ bi. Từ bi không chỉ có nghĩa là thương yêu chúng sinh mà còn có nghĩa là thể hiện lòng thương yêu ấy bằng hành động, bằng việc làm cụ thể, tức là từ thiện. Vậy từ thiện hay Thiện tâm xuất phát từ Từ bi, là tướng của cái thể Từ bi; trong ý nghĩa sâu xa là Thiện tâm.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công tác từ thiện xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp thực tế vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Khái niệm Công tác từ thiện xã hội có mối quan hệ gắn kết với khái niệm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Trong đó, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội có bản chất xã hội sâu sắc gắn kết hữu cơ giữa quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người với mỗi đơn vị, cộng đồng và toàn xã hội. Ở Việt Nam, thuật ngữ “an sinh xã hội” được xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn.
Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều hơn và đặc biệt là từ những năm 1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn. An sinh xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [Xem 36]. Như vậy, về mặt bản chất, an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng.
Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong xã hội và vì vậy mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc, và đây cũng là tư tưởng muốn hướng tới của Adam Smith nêu trên - hướng tới sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người và cho xã hội. Phúc lợi xã hội, là những biện pháp của nhà nước và xã hội nhằm khắc phục những “thất bại”, khiếm khuyết của thị trường. Bản chất của PLXH là làm giảm thiểu sự bất công bằng trong xã hội, đảm bảo cho các thành viên trong xã hội đều có thể thụ hưởng những cái “chung” của xã hội. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi nghiên cứu công tác từ thiện xã hội Phật giáo với nội hàm là hệ thống công tác quản lý và các giải pháp hoạt động thực tiễn cụ thể của Phật giáo nhằm góp phần bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường, vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Và Công tác từ thiện xã hội góp phần không nhỏ vào an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Khái niệm An sinh xã hội và phúc lợi xã hội bao gồm nhiều khía cạnh nhưng trong luận văn chúng tôi đề cập đến các khía cạnh sau: An sinh xã hội về đời sống vật chất và an sinh xã hội về mặt tinh thần; Phúc lợi xã hội chúng tôi chủ yếu đề cập đến hai vấn đề cơ bản là y tế và giáo dục. Quan điểm của Phật giáo về công tác từ thiện xã hội Thuyết Nhân quả, Nghiệp báo của Phật đã hình thành một nhân sinh quan tin vào một chủ thể thánh thần có khả năng nhìn thấu nhân gian, Trời - Phật có mắt, gieo nhân xấu ắt gặt quả xấu, gieo nhân tốt gặt quả tốt. Người Việt Nam rất tin tưởng vào triết lý nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật.
Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảng của triết lý vô ngã. Vô ngã trong quan niệm nhà Phật không chỉ bó hẹp trong cái ta của con người cá nhân, của tôi hay của anh mà là không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các sự vật, hiện tượng của vũ trụ nói chung. Phật dạy tín đồ phải nhìn sự vật, hiện tượng bằng con mắt vô ngã để có thể quán chiếu được lẽ không của vạn vật, để từng bước diệt khổ, có nghĩa là từng bước đạt được sự giải thoát. Chính vì vậy, theo quan niệm của nhà Phật, “Vô ngã” cũng có nghĩa là “Niết bàn”.
Coi trọng một nếp sống đạo đức, Đức Phật đã đưa ra một hệ thống các phạm trù đạo đức như Lục độ, Lục hoà, Thập thiện, Tứ ân… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Riêng Lục độ hay còn gọi là 6 hạnh Ba la mật, bao gồm: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Người tu hành đắc được 6 hạnh này thì độ được mình và độ được người sang bờ bên kia của bến mê, có nghĩa là đạt giải thoát. Lục độ là phép môn tu Bồ tát thừa. Theo tinh thần này, bất kỳ là ai, dù người mới nhập pháp môn tu hành hay đến các vị Bồ tát, Phật đều phải vừa độ mình, độ người để giúp mình và giúp người cùng ra khỏi bến mê.
Như vậy, giải thoát theo tinh thần của Lục độ thì bản thân cá nhân mỗi người phải làm thiện, sau đó giúp người làm thiện. Và cuối cùng, việc giúp mình, giúp người trở thành lẽ tự nhiên trên con đường thực hiện giải thoát. Như vậy Bố thí (Từ thiện) là một trong những phương pháp tu tập hữu ích trong việc nhiếp hóa chúng sinh (tứ nhiếp pháp: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) và là phương tiện nhập thế hữu hiệu của Phật giáo. Xuyên suốt từ khi Đức Phật còn tại thế, cho đến nay, pháp bố thí được Phật giáo đồ khắp nơi trên thế giới sử dụng để chuyển hóa tâm, đem lại niềm vui cho mọi người.
Bố thí theo Phật giáo bao gồm: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí, được gọi là Bố thí Ba la mật. Đối với Tài thí là việc đem tiền bạc, của cải, vật thực của mình ra cho. Tài thí có hai loại: Nội tài và Ngoại tài. Đối Pháp thí là việc dùng lời của đức Phật để chỉ bày, khuyên bảo các chúng sinh, sống đúng theo chánh pháp.
Theo Phật giáo thì Pháp thí có giá trị hơn cả tài thí, vì tài thí chỉ giúp người khác được túng thiếu về phương diện vật chất trong một thời gian, hay nhiều nhất là cứu giúp một đời người. Nhưng pháp thí giúp đỡ người rất nhiều về phương diện tinh thần, không riêng gì đối với người nghèo khó, mà cả người giàu sang, chức tước; không phải chỉ có ảnh hưởng tốt trong một giai đoạn, mà gieo nhân lành cho nhiều đời kiếp về sau. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối Vô úy thí là việc làm cho người khác không sợ, hết sợ. Vì bố thí Vô úy sẽ giúp cho chúng sinh sự bình an, bình tĩnh trước mọi việc.
Trong hệ thống giáo lý Phật giáo, bố thí hay từ thiện đều rất được coi trọng. Điều đó thể hiện ở nhiều minh chứng cụ thể: Với mong muốn, trăn trở luôn đem lại hạnh phúc, an vui cho chúng sinh, nên ngay từ khi thành lập giáo đoàn, Đức Phật đã răn dạy các đệ tử của mình: “Hãy ra đi, các Tỳ kheo, đem sự tốt đẹp lại cho nhiều người, đem hạnh phúc đến cho nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lại cho chư Thiên và nhân loại” [15, tr. Trong hệ thống kinh sách Phật giáo cả Nam truyền và Bắc truyền đều có nhiều trang đề cập đến vấn đề này.
Lời dạy của Đức Phật về Bố thí Kinh Tăng Chi Bộ: “Người có bố thí, khi được làm một vị trời hoặc được làm người đều vượt qua người không bố thí trên năm phương diện, đó là thọ mạng, nhan sắc, an lạc, danh xưng và tăng thượng” ; “Có người bố thí với tâm không mong cầu, bố thí với tâm không trói buộc, bố thí không với ý nghĩ “ta sẽ hưởng thọ cái này ở đời sau”, chỉ bố thí với ý nghĩ “lành thay sự bố thí”. Vị ấy bố thí để trang nghiêm tâm. Do bố thí như vậy, sau khi thân hoại mạng chung, được sinh cộng trú với chư Thiên ở cõi trời Phạm chúng. Khi nghiệp lực đoạn tận, thần lực, danh tiếng và uy quyền đoạn tận, vị ấy trở thành vị Bất lai, không trở lui trạng thái này” [7, tr.