CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LƯU VỰC SÔNG HỒNG. Vị trí địa lý. Hệ thống sông Hồng là hệ thống sông lớn thứ hai ở nước ta, chỉ sau hệ thống sông Mê Kông, nằm trong phạm vi toạ độ địa lý: 100000'-106035' kinh độ đông, 20000'-25030' vĩ độ bắc; phía bắc giáp lưu vực sông Trường Giang, phía đông giáp lưu vực sông Thái Bình, phía tây giáp lưu vực sông Mê Kông và sông Mã, phía nam giáp Vịnh Bắc Bộ.
Phần lưu vực hệ thống sông Hồng trong lãnh thổ nước ta nằm trong phạm vi toạ độ địa lý: 102010'-106035' kinh độ đông, 20000'-23007' vĩ độ bắc. Diện tích lưu vực hệ thống sông Hồng khoảng 155.300 km2 nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam (Trung Quốc 7110 km2 và Lào 1120 km2, phần diện tích nằm trong lãnh thổ nước ta là 72.700 km2 (chiếm 46,9%), bao trùm toàn bộ hay một phần địa phận 17 tỉnh và thành phố: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội, Hưng Yên, Hà Nam, Hà Đông, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình. Địa hình, địa mạo. Địa hình trong lưu vực hệ thống sông Hồng rất đa dạng, bao gồm: núi, đồi và đồng bằng.
Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích lưu vực, có xu thế thấp dần theo hướng tây bắc - đông nam, độ cao trung bình 1090 m. Trong lãnh thổ Việt Nam, phần phía tây của lưu vực sông Hồng được giới hạn bởi khối núi ở biên giới Việt - Lào với những đỉnh cao trên 1800 m như: Pu-đen-đinh (1886 m), Pu-Sam- Sao (1897 m), Khoan-La-San (1853 m), là đường phân nước giữa sông Đà (một nhánh của sông Hồng) với sông Mê Kông; phía tây bắc của lưu vực là những dãy núi cao ở biên giới Việt - Trung, với những đỉnh cao trên 2000 m như: Pu Si Ling (3076 m), Phu Nam Nhe (2534 m), phần phía bắc cũng có những dãy núi cao với những đỉnh cao trên 2000 m như: Kiều Liêu Ti (2402 m), Tây Côn Lĩnh (2419 m); phần phía đông bắc là 2 cánh cung: sông Gâm, Ngân Sơn và dãy Tam Đảo. Ở trung và thượng lưu có những khối núi và cao nguyên. Dãy Hoàng Liên Sơn kéo dài từ biên giới Việt - Trung đến Vạn Yên với đỉnh Phan Xi Păng cao nhất Việt Nam (3143 m), sau đó là đỉnh Phu-Luông (2985 m), là đường phân nước giữa - 10 - sông Đà với sông Thao.
Dãy núi Con Voi ở tả ngạn trung lưu sông Thao là đường phân nước giữa sông Thao với sông Lô. Khối núi Tây Côn Lĩnh phía hữu ngạn trung lưu sông Lô có những đỉnh cao trên 2000 m: Tây Côn Lĩnh 2419 m, Kiều Liêu Ti 2402 m. Trong lưu vực sông Hồng có các cao nguyên đá vôi như các cao nguyên: Tà Phìn, Sín Chải, Sơn La, Mộc Châu thuộc lưu vực sông Đà; Bắc Hà, Quản Bạ, Đồng Văn, Yên Minh thuộc lưu vực sông Lô. Địa hình đồi dạng bát úp, cao từ 50-100 m, đặc trưng cho cảnh quan vùng trung du, phân bố rộng khắp trong lưu vực.
Xen kẽ giữa những cao nguyên và đồi núi có những bồn địa như ở Nghĩa Lộ, Quang Huy. Vùng đồng bằng nằm ở châu thổ sông Hồng - Thái Bình, địa hình bằng phẳng, nghiêng ra biển theo hướng tây bắc - đông nam. Đồng bằng bị chia cắt thành những khu bởi các bờ đê chạy dọc theo các triền sông. Địa chất, thổ nhưỡng.
Lưu vực sông Hồng trong địa phận Việt Nam là nơi gặp gỡ của hai hệ thống địa chất - kiến tạo lớn, đó là nền địa chất Hoa Nam và địa máng Mezozoi, nối hai phương kiến tạo khác nhau và cắt nhau: đông bắc nằm trên và tây bắc nằm dưới. Ranh giới của 2 hệ thống này là đường đứt gãy kiến tạo lớn và sâu chạy theo hướng tây bắc - đông nam ra tận Vịnh Bắc Bộ, chính sông Thao và sông Chảy chảy trên đường đứt gãy này. Hệ thống đứt gãy này chia lưu vực sông Hồng thành 2 miền uốn nếp khác nhau: Việt - Trung nằm ở đông bắc và Ấn - Trung nằm ở phía tây nam. Vì thế, cấu tạo địa chất trong lưu vực rất phức tạp.
Vùng núi cao trong trong lưu vực được cấu tạo bằng các loại đá như: granít, đá phiến, sa diệp thạch, phiến thạch, sa thạch, cát kết, cuội kết và đá vôi. Đất trong lưu vực được phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau, gồm các loại đất như: Đất mùn trên núi cao, đất feralít trên các loại đá mác ma, đá vôi và các loại đá khác với các màu vàng nhạt, vàng, đỏ, đỏ vàng, nâu đỏ., đất đá vôi, đất phù sa và cát ven sông, ven biển, đất phèn và đất mặn. Thực vật trong lưu vực sông rất phong phú, với nhiều loại thực vật và phân bố theo độ cao khác nhau: - 11 - Ở độ cao từ trên 1700 m có rừng nhiệt đới núi cao, cây cao thường dưới 20 m, lớp mùn rất giàu, cây sống trong sương mù nên có rêu. Ở độ cao 700-1700 m có rừng nhiệt đới thường xanh, gồm rừng kín hỗn hợp cây lá rộng; lá kim á nhiệt đới và rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới, cây cao 25-30 m.
Ở độ cao 700 m có rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới, trảng cỏ và cây bụi. Rừng ngập mặn ở ven biển. Bản đồ vị trí địa lý lưu vực sông Hồng địa phận Việt Nam 1. Điều kiện khí hậu, thủy văn.
Điều kiện khí hậu.[9] Toàn bộ lưu vực sông Hồng nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu tác động của cơ chế gió mùa Đông Nam Á với 2 loại gió mùa mùa đông và gió mùa mùa hạ, kết hợp với địa hình biến đổi phức tạp đã tạo cho khí hậu trên lưu vực sông Hồng phân hoá thành 2 mùa rõ rệt: mùa đông (trùng với mùa gió mùa mùa đông) và mùa hạ (trùng với mùa gió mùa mùa hạ) - 12 - Mùa đông thường bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau. Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên thời tiết giá lạnh. Càng lên cao thì thời gian lạnh càng kéo dài, thậm chí có những điểm lạnh quanh năm như Sapa, có hiện tượng sương muối, băng, tuyết… Mùa hè thường bắt đầu từ tháng V-X, trên lưu vực sông Đà bắt đầu sớm hơn khoảng 1 tháng. Hướng gió trên lưu vực sông Đà phụ thuộc vào hướng thung lũng, chủ yếu là thổi theo hướng Tây hoặc Tây Bắc và thường là vào mùa hè.
Trên lưu vực sông Lô lại có hướng gió thịnh hành là hướng Nam và Đông Nam. Đây thực chất là kết quả của gió Tây Nam khô nóng vượt qua dãy Trường Sơn ra biển Đông và bị hút vào áp thấp Bắc Bộ nên hầu hết vùng đồng bằng Bắc Bộ và lãnh thổ phía Bắc- Đông Bắc chịu ảnh hưởng của loại gió này. Vào mùa đông gây nên những đợt ấm xen kẽ. Tốc độ gió trung bình nhiều năm đạt từ 1- 1,5m/s, tốc độ gió trung bình nhiều năm tại Bắc Hà là 1,1m/s, Hoàng Xu Phì là 1,2m/s, trên lưu vực sông Gâm thì dao động từ 1-1,5m/s.
Tốc độ gió lớn nhất có thể đạt tới 40m/s và thường xuất hiện khí có giông, bão. Tốc độ gió lớn nhất quan trắc được tại trạm khí tượng Sơn La là 40m/s, tại Bắc Hà là 30m/s, Hoàng Xu Phì là 40m/s, Bắc Mê là 45m/s, Na Hang là 30m/s. Nhiệt độ trung bình năm trên toàn lưu vực dao động từ 21-23o và nhiệt độ biến đổi tương đối đồng đều trong các tháng. Chế độ nhiệt trong năm biến đổi theo thời gian và không gian rất rõ rệt, có xu hướng tăng dần từ thượng lưu về hạ lưu.
Nhiệt độ cao nhất thường xuất hiện vào tháng V, tại Sơn La dao động từ 37o- 41oC , trong khi đó trên lưu vực sông Chảy thì nhiệt độ cao nhất có thể đạt tới 41,2oC tại Lục Yên, trên lưu vực sông Gâm thì nhiệt độ lớn nhất đã quan trắc được là 41,5oC tại Chiêm Hoá và ở Bắc Mê là 41oC. Nhiệt độ thấp nhất thường xuất hiện vào tháng XII và tháng I trên toàn lưu vực. Theo số liệu đã quan trắc được, nhiệt độ có thể xuống tới -3,6oC tại Bắc Hà, -0,6oC ở Chợ Rã, -0,2oC tại Sơn La. Nhiệt độ bình quân tháng tại một số trạm trên lưu vực [9] Tháng (oC) Tên Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Lai Châu 17.5 Độ ẩm tương đối trung bình tháng trong năm trên toàn lưu vực tương đối cao, dao động từ khoảng 81-83% trên lưu vực sông Đà, 81,86% trên lưu vực sông Gâm, thậm chí có khu vực trên lưu vực sông Chảy có độ ẩm trung bình tháng lớn nhất đạt 88,6%.
Độ ẩm tuyệt đối trung bình nhiều năm trên lưu vực sông Đà được xác định vào khoảng 20-23,3mb. Tháng có độ ẩm tương đối trung bình cao nhất thường vào khoảng tháng VII, VIII (trên lưu vực sông Gâm) và cũng vào khoảng tháng VIII trên lưu vực sông Chảy. Tháng có độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất thường vào khoảng tháng III, V, độ ẩm dao động từ 75%-85% Bảng 1. Độ ẩm bình quân tháng tại một số trạm trên lưu vực [9] Tháng (%) Tên Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Lai Châu 83.5 Tổng lượng bốc hơi piche trung bình nhiều năm các trạm Sơn La là 932,8mm, Thác Bà là 803,4mm, trên lưu vực sông Gâm là 782,6mm.
Tổng lượng bốc hơi mặt nước quan trắc được trên lưu vực sông Gâm có thể đạt 1283,5mm, trên sông Chảy là 1285,4mm và trên sông Đà là 1091mm. Mùa mưa trên lưu vực gần như trùng với mùa gió mùa Đông Nam và thường kéo dài khoảng 5 tháng (V-IX), song cũng có những năm mùa mưa bắt đầu sớm hơn hoặc kết thúc muộn hơn từ 15 đến 30 ngày. Trên lưu vực sông Đà do chịu ảnh - 14 - hưởng của không khí nhiệt đới Bắc Ấn Độ Dương (gió Tây Nam) vào nửa đầu mùa hạ nên mùa mưa có thể xuất hiện sớm hơn và kết thúc muộn hơn. Lượng mưa trên sông Hồng tập trung vào 6 tháng mùa lũ với lượng mưa chiếm khoảng 80-85% lượng mưa năm, có khi lên tới 89% trên lưu vực sông Lô.
Lượng mưa trong các tháng mùa khô chỉ chiếm khoảng 15-20% lượng mưa năm. Tháng có lượng mưa ít nhất thường rơi vào khoảng tháng XII, I. Các tháng V, X là các tháng chuyển tiếp nên lượng mưa bình quân tháng nhìn chung còn khá lớn. Mưa lớn thường tập trung vào các tháng VI, VII, VIII, chủ yếu là tháng VIII, chiếm khoảng 18,7-21,2% lượng mưa năm.
Có thể kể đến các tâm mưa lớn như tâm mưa Bắc Quang thuộc trung lưu của lưu vực sông Lô, tâm mưa Thượng nguồn sông Đà.