Chương 1 TỔNG QUAN THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI THÀNH PHỐ SƠN LA 1. Giới thiệu về hệ thống điện tỉnh Sơn La 1. Đặc điểm địa bàn quản lý vận hành Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế của tỉnh Sơn La. Với tổng diện tích tự nhiên 323,51 km², dân số 106.052 người, thành phố có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La.
Với tổng số 169 tổ, bản, tiểu khu (7 bản tái định cư Thủy điện Sơn La mới được thành lập). Thành phố có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hóa, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh. Về điều kiện khí hậu: Nhiệt độ không khí: Trung bình 22 °C. Độ ẩm không khí: Trung bình: 81%.
Nắng: Tổng số giờ nắng là 1885 giờ. Lượng bốc hơi bình quân 800 mm/năm. Mưa: Lượng mưa bình quân: 1.299 mm/năm, số ngày mưa: 137 ngày. Thành phố đang trong giai đoạn đầu tư và xây dựng, quá trình đô thị hóa diễn ra rất mạnh.
Phần nguồn điện Khu vực Sơn La được cấp nguồn từ trạm 220kV là TBA 220kV Sơn La, Yên Bái và đường dây 110kV liên lạc với khu vực Hòa Bình, Điện Biên và 47 NMTĐ nhỏ đấu nối lưới trung áp, lưới 110kV với tổng công suất đặt 526,9MW 4 download by : skknchat@gmail. Cấp điện cho 17TBA/23MBA – công suất đặt 507MVA trong đó có 6TBA/9MBA với tổng dung lượng 243MVA thuộc tài sản ngành điện. Trạm biến áp 110KV E17.2 Sơn La được cấp nguồn từ đường dây 110kV lộ 174, 176 sau trạm 220kV E17.6 Sơn La và liên lạc từ trạm biến áp 110kV E17.4 Thuận Châu, đường dây 110kV liên lạc với trạm biến áp 110kV E21. Hiện trạng đường dây 110 kV - Đường dây 110 kV Công ty Điện lực Sơn La quản lý có tổng chiều dài 479,28 km; gồm 17 lộ đường dây, kết cấu các tuyến đường dây 110kV chủ yếu là các dường dây mạch đơn, sử dụng tiết diện dây dẫn AC 185 và 240 mm2.
- Các đường dây mạch kép có tổng chiều dài 76,53km, gồm các đường dây Sơn La – Tuần Giáo, Trạm 220kV Sơn La – Trạm 110kV Sơn La, nhánh rẽ thủy điện To Buông, nhánh rẽ thủy điện Pá Chiến. - Đường dây 110kV cấp điện trạm biến áp 110kV E17.2 Sơn La do Công ty Điện lực Sơn La quản lý có tổng chiều dài 159,5 km. Trong đó 94,7km dây dẫn AC185mm2; 64,8km dây dẫn AC240mm2 (gồm các lộ 174, 176 sau trạm 220kV E17.6 Sơn La và liên lạc từ trạm biến áp 110kV E17.4 Thuận Châu, đường dây 110kV liên lạc với trạm biến áp 110kV E21.4 đã có đường dây 110kV liên kết mạch vòng. Riêng Trạm 110kV Phù Yên và Trạm 110kV Sông Mã, Trạm Mường La được cấp từ 01 đường dây 110kV không đảm bảo tiêu chí N-1.
- Lưới điện 110kV Sơn La liên kết với các tỉnh khác như sau: + Liên kết với lưới điện 110kV tỉnh Hòa Bình qua tuyến đường dây 110kV từ trạm 110kV Mộc Châu (lộ 172-E17.1) đi trạm 110kV Mai Châu(172-E19.6) dây dẫn AC185mm2 dài khoảng 70,8km 5 download by : skknchat@gmail.com + Liên kết với lưới điện 110kV tỉnh Điện Biên qua tuyến đường dây 110kV từ trạm 220kV Sơn La (lộ 171-E17.2) đi trạm 110kV Tuần Giáo( 176 E21.1) dây dẫn AC240mm2 dài khoảng 64,8km và đường dây 110kV Thuận Châu (172 E17.1 Tuần Giáo) dây dẫn AC185 mm2 dài khoảng 34km + Liên kết với lưới điện 110kV tỉnh Yên Bái qua tuyến nhánh rẽ đường dây 110kV từ trạm 110kV Phù Yên (lộ 171- E17.5) trên đường dây Yên Bái - Nghĩa Lộ dây dẫn AC185mm2 dài khoảng 51,84km Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện có 47 NMTĐ nhỏ - tổng công suất đặt 528,3MW đang vận hành phát điện, trong đó 29 NMĐ đấu nối lưới 110kV với tổng công suất 417,4MW; 18 NMĐ đấu nối lưới trung áp với tổng công suất 110,9 MW. Lưới điện trung áp Tính đến thời điểm hiện nay, lưới điện trung áp cấp điện cho tỉnh Sơn La qua 45 lộ đường dây trung áp với tổng chiều dài 4. Trong đó lưới điện trung áp cấp điện khu vực thành phố Sơn La gồm 13 lộ đường dây trung áp với tổng chiều dài 229,43 km 1. Giới thiệu khái quát về mạng điện thành phố Sơn La 1.
Nguồn điện Thành phố Sơn La hiện đang được cấp điện trực tiếp từ lưới điện Quốc Gia thông qua trạm biến áp Trạm 110kV E17. Đây là nguồn cung cấp chính cho toàn bộ các phụ tải khu vực Thành phố Sơn La. Nguồn dự phòng gồm 02 TBA: 110KV E17.3 Mường La thông qua đường dây 35kV lộ 371 và 110kV E17.4 Thuận Châu thông qua đường dây 35kV lộ 371. Nguồn điện khác đấu nối lên lưới trung thế gồm: thủy điện Nậm Chanh 2,1MW đấu nối vào đường dây 22kV lộ 473 E17.2 6 download by : skknchat@gmail.
Lưới điện + Lưới điện trung áp cấp điện khu vực Thành phố Sơn La gồm 13 lộ đường dây trung áp với tổng chiều dài 229,43 km; Trong đó 05 lộ đường dây 35kV và 05 lộ đường dây 22kV được cấp từ TBA 110kV E17.2 Sơn La; 03 lộ đường dây 22kV được cấp từ TBA Trung gian 2/9 Sơn La. + Lưới điện hạ thế 0,4KV có tổng chiều dài 218,77 được cấp điện qua 241 TBA công cộng. Nhu cầu sử dụng điện trong thành phố đạt 100%, tiêu chuẩn cấp điện sinh hoạt khu vực nội thị đạt khoảng 350kWh/người/năm, khu vực các xã đạt khoảng 110kWh/ người/năm. Cơ cấu thành phần phụ tải điện thành phố Sơn La năm 2019 Sản lượng TT Tên thành phần phụ tải Ghi chú (kWh) 1 Nông, lâm nghiệp, thủy sản 932.457 2 Công nghiệp, xây dựng 15.430 3 Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng 15.307 4 Quản lý, tiêu dùng 69.160 5 Hoạt động khác 14.
Vai trò, đặc điểm và hiện trạng cấp điện của các tỉnh Tây Bắc 1. Vai trò và đặc điểm Các tỉnh thuộc Tây Bắc (trong đó có tỉnh Sơn La) chiếm một vùng rộng lớn, có rất nhiều tiềm năng, lợi thế về khí hậu, diện tích đất đai rộng, giàu khóang sản và nhiều loại tài nguyên quí trữ lượng lớn, tiềm năng rừng, thủy điện phong phú, các di tích lịch sử và nhiều dân tộc có truyền thống văn hóa dân tộc đặc sắc rất thuận lợi cho phát triển du lịch. Nằm ở khu vực giáp biên giới 3 nước Việt Nam – Lào – Trung Quốc, các tỉnh Tây Bắc có thế mạnh kinh tế biên mậu với cả Lào và Trung Quốc, đồng thời là tâm điểm giao thương và 7 download by : skknchat@gmail.com khu vực hợp tác giữa các nước thuộc Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng. Chính phủ Việt Nam cũng đã có chính sách đầu tư riêng cho Tây Bắc, nhưng với những bất lợi như địa hình hiểm trở, cơ sở hạ tầng thiếu và yếu kém, dân cư phân tán với nhiều dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, Tây Bắc vẫn là vùng kinh tế khó khăn và tỷ lệ hộ đói nghèo thuộc diện cao nhất cả nước.
Các tỉnh thuộc Tây Bắc (trong đó có tỉnh Sơn La) là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng và là nơi có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên khóang sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu, và năng lượng tái tạo như thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời,. Do dân cư khu vực Tây Bắc tập trung nhiều ở vùng sâu vùng xa, địa hình hiểm trở, cơ sở hạ tầng còn thiếu nên việc cấp điện cho phụ tải khu vực này còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp hợp lý cung cấp điện năng cho khu vực Tây Bắc là một nhu cầu có tính cấp thiết cao. Là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng và là nơi có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên khóang sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu, và năng lượng tái tạo như thủy điện nhỏ, năng lượng mặt trời,.
Do dân cư khu vực Tây Bắc tập trung nhiều ở vùng sâu vùng xa, địa hình hiểm trở, cơ sở hạ tầng còn thiếu nên việc cấp điện cho phụ tải khu vực này còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp hợp lý cung cấp điện năng cho khu vực Tây Bắc là một nhu cầu có tính cấp thiết cao. Hiện trạng cấp điện cho khu vực Tây Bắc Theo đặc điểm cung cấp năng lượng, các tỉnh Tây Bắc phân chia thành 2 khu vực là khu vực có điện lưới, tập trung ở các xã thuộc vùng thấp, gần trung tâm các huyện, thành phố thuận tiện giao thông và khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, có đặc điểm dân cư sống phân tán, nhu cầu năng lượng thấp, chưa có hoặc đầu tư đấu nối với lưới điện quốc gia gặp khó khăn và không kinh tế. 8 download by : skknchat@gmail.com Có một thực tế là tại các vùng nông thôn miền núi thì điện chủ yếu dùng trong sinh hoạt tiêu dùng và thường chiếm tỉ lệ rất cao, khoảng trên 70%.
Theo tính toán, tiêu thụ điện các huyện vùng sâu, vùng xa Việt Nam bình quân đầu người hiện chỉ khoảng 60kWh/người/năm. Theo thống kê của EVN, số hộ gia đình nông thôn miền núi Tây Bắc nước ta (bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu và một phần Lào Cai, Phú Thọ) có mức độ điện khí hóa của vùng này mới đạt khoảng hơn 74,0%, là một trong những vùng lãnh thổ có tỷ lệ điện khí hóa thấp nhất cả nước. Tình hình cấp điện phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất tại khu vực Tây Bắc như sau: - Sử dụng điện lưới quốc gia: đây là giải pháp hiệu quả nhất về mặt kinh tế - kỹ thuật, tuy nhiên giải pháp này chỉ có thể áp dụng được đối với các địa phương gần lưới điện quốc gia,… - Sử dụng máy phát diesel: được áp dụng phổ biến do có ưu điểm là chi phí đầu tư thấp và dễ vận hành. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch để chạy máy phát có ảnh hưởng lớn đến môi trường.
Vì vậy thời gian sử dụng máy phát diesel trong ngày là không nhiều, chủ yếu phục vụ khi có nhu cầu và trong giờ cao điểm.