chương 1 Tóm lại, dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày ở phần trên người viết rút ra một số kết luận sau: - Khẩu vị rủi ro quyết định tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư theo mô hình định giá tài sản vốn CAPM, khẩu vị rủi ro càng cao tỷ suất sinh lợi kỳ vọng càng lớn và ngược lại, cụ thể hơn, thước đo về khẩu vị rủi ro được phản ánh qua chỉ số Bêta chứng khoán mà nhà 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tư lựa chọn. Như vậy vận dụng mô hình CAPM sẽ giải quyết được vấn đề về lượng hóa khẩu vị rủi ro từ đó chọn được chứng khoán cụ thể với độ rủi ro phù hợp; - Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng quyết định việc phân bổ tài sản tối ưu theo lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz để cho kết quả: đối với mỗi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho trước thì độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư nhỏ nhất. Và thông qua việc phân bổ tài sản tối ưu này sẽ giải quyết được vấn đề về tính hiệu quả của danh mục đầu tư. - Mối quan hệ giữa mô hình CAPM và lý thuyết danh mục đầu tư Markowitz thể hiện ở tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro: CAPM lượng hóa khẩu vị rủi ro và chỉ ra tỷ suất sinh lợi kỳ vọng tương xứng, Markowitz lại dựa trên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng này mà phân bổ tài sản tối ưu để quay trở lại mục tiêu giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất có thể.
Trong phạm vi đúng đắn của các giả định mô hình, vấn đề đặt ra đối với nhà đầu tư là việc nhận thức và nắm rõ được những lý thuyết, mô hình từ đó vận dụng vào thực tiễn sẽ quyết định hiệu quả danh mục của họ. Điều này thể hiện tính chuyên nghiệp của nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường chứng khoán. Như vậy, dưới góc độ nhà đầu tư cá nhân thì hiệu quả đầu tư là kết quả của khẩu vị rủi ro và tính chuyên nghiệp của họ, phương trình mô tả vấn đề này như sau: Khẩu vị rủi ro + Tính chuyên nghiệp = Hiệu quả đầu tư Tất cả những nội dụng được đề cập ở các chương sau sẽ xoay quanh vấn đề này nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt thực tiễn nghiên cứu vấn đề hiệu quả đầu tư, khẩu vị rủi ro trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã có một số đề tài chẳng hạn như: “Phát triển nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Vũ (luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2009), “Ứng dụng một số mô hình đầu tư tài chính hiện đại vào thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Đinh Trọng Hưng (luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2008), “Ứng dụng các lý thuyết tài chính hiện đại trong việc đo lường rủi ro của các chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Minh Ngọc Diễm (luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2008),.Tuy nhiên đặc điểm khác biệt và nổi bật của bài nghiên cứu là sự kế thừa và tính ứng dụng cao thông qua việc xây dựng danh mục đầu tư hiệu quả có kiểm định thực tế xuyên suốt theo thời gian thực của một quy trình đầu tư chứng khoán hoàn chỉnh từ khâu đầu tiên là lựa chọn cổ phiếu đến khâu cuối cùng là phân bổ tài sản, dựa trên giác độ của một nhà đầu tư cá nhân cụ thể.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Thực trạng đầu tư của nhà đầu tư cá nhân Nhà đầu tư cá nhân là một bộ phận trong toàn thể các nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán Việt Nam, do đó thực trạng chung của thị trường chứng khoán cũng chính là thực trạng của nhà đầu tư cá nhân. Thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập từ năm 2000 (28/07/2000), trải qua hơn 10 năm hoạt động và phát triển xét về thâm niên so với các thị trường chứng khoán trên thế giới thì được đánh giá là non trẻ. Tuy nhiên thị trường cho thấy những mặt tích cực không thể bàn cãi một trong số đó là kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp từ đó mở rộng sản xuất kinh doanh tăng cường đóng góp sản lượng vào GDP của đất nước. ét trong quá trình từ những ngày đầu mới hình thành đến giai đoạn hiện nay thị trường đã không ngừng vận động và phát triển về số lượng lẫn chất lượng cụ thể: - Số lượng sàn giao dịch đã được thành lập từ một sàn lên ba sàn: Sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM - HS , Sàn giao dịch chứng khoán TP.
Hà Nội - HN , Sàn giao dịch chứng khoán chưa niêm yết - Upcom; - Số lượng doanh nghiệp niêm yết và quy mô niêm yết ngày càng tăng; - Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện. So với các kênh đầu tư tài chính khác như tiền gửi, giao dịch ngoại tệ, vàng, bất động sản thì thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là một kênh đầu tư khá hấp dẫn ở tính thanh khoản cao, lợi nhuận tương đối cao, nhưng như một nguyên tắc bất di bất dịch trong tài chính “rủi ro cao đi k m lợi nhuận cao”, trong suốt giai đoạn vận động của thị trường, mọi người luôn 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dễ dàng đọc được tin tức về những câu chuyện thần kỳ hoặc bi đát trong việc đầu tư kinh doanh chứng khoán. Những bài học rút ra từ lịch sử không bao giờ cũ nhưng cũng không thể đảm bảo cho thành công trong tương lai, hoạt động trong một lĩnh vực đầy rủi ro thì cách tốt nhất là nhà đầu tư phải ý thức được điều đó và phải thấy được khiếm khuyết của thị trường mà tự phòng vệ cho danh mục đầu tư của mình trong từng tình huống. Do đó bên cạnh những mặt tích cực trở trên thì những khiếm khuyết của thị trường là vấn đề cần phải đề cập một cách cụ thể và rõ ràng.
ua một quá trình tham gia đầu tư và tìm hiểu thông tin, người viết xin trình bày các khiếm khuyết hiện nay của thị trường chứng khoán Việt Nam như sau: 2.1 Thị trường thiếu minh bạch Vấn đề minh bạch là câu chuyện dài tập không có hồi kết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, là yếu tố đòi hỏi hàng đầu đối với các doanh nghiệp niêm yết, nhưng xuất phát điểm từ tập quán hệ thống sổ sách kế toán “2 sổ” mà ngay từ trong buổi sơ khai thành lập hầu như toàn bộ doanh nghiệp trong nước đều không rõ ràng về mặt báo cáo đối với cơ quan thuế nhằm né tránh nghĩa vụ phải trả nhà nước. Và cho đến khi lên sàn đều trải qua nhiều công đoạn hoàn chỉnh báo cáo tài chính cho phù hợp với quy định niêm yết, tuy nhiên ngay trong tư duy vẫn còn tàn dư của việc không rõ ràng thì ít nhiều hành động cũng phản ánh tương ứng. Không phải tất cả doanh nghiệp niêm yết đều thể hiện sự thiếu minh bạch nhưng đây là vấn đề phổ biến ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Có thể phân thành nhóm các hành vi như sau: - Về công bố thông tin: giao dịch cổ đông nội bộ, công bố thông tin có ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp,…Đây là vấn đề nhức nhối của thị trường chứng khoán Việt Nam, hiện tượng vi phạm xảy ra thường xuyên đến mức có thể khẳng định hầu hết doanh nghiệp đều mắc 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải, ban đầu có thể do chưa hiểu biết quy định pháp luật nhưng càng về sau càng bộc lộ hành vi cố ý vi phạm nhằm thu lợi bất chính hoặc biểu hiện đầu tiên của việc thao túng giá chứng khoán.
Các hình thức vi phạm rất đa dạng, bao gồm: cổ đông nội bộ, cổ đông lớn giao dịch không công bố, trì hoãn thậm chí không công bố thông tin có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, thông tin nhân sự chủ chốt… (thông tin bất thường), chậm công bố báo cáo tài chính, không thực hiện việc mua cổ phiếu quỹ, tăng vốn phát hành thêm hoặc chào bán cổ phiếu ra công chúng không có báo cáo… - Về báo cáo tài chính: chất lượng báo cáo tài chính, chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết vốn được trình bày theo nhiều quy định và chuẩn mực kế toán khác nhau mà nhiều khi về cách hiểu của các đối tượng có liên quan từ cơ quan Nhà Nước đến doanh nghiệp về một vấn đề, một tiêu chí là không thống nhất, thậm chí tồn tại một số quy định phức tạp và chồng chéo lẫn nhau (trích lập dự phòng, xử lý chênh lệch tỷ giá, chi phí kế toán và chi phí hợp lý đối với thuế). Với việc môi trường phức tạp của quy định về tài chính kế toán cùng với tư duy “2 sổ” đã làm chất lượng báo cáo tài chính của một số doanh nghiệp niêm yết thực sự có vấn đề. Những hành vi gian lận về kế toán, thuế nhằm thổi phồng lợi nhuận đã không còn xa lạ trên thị trường, việc kết quả kinh doanh có thể thay đổi từ lãi sang lỗ sau kiểm toán là hiện tượng có thật, thậm chí một số doanh nghiệp còn chủ động gian lận một cách có hệ thống và tinh vi đã đưa công ty đến tình trạng phá sản (Bông Bạch Tuyết, BTC, DVD – nguồn UBCKNN).
Kiểm toán độc lập là lĩnh vực tương đối mới mẻ tại Việt Nam, cùng với môi trường tài chính kế toán doanh nghiệp với nhiều tính không minh bạch, một phần bị hạn chế bởi năng lưc chuyên môn của đội ngũ kiểm toán 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viên đã làm cho chất lượng báo cáo tài chính doanh nghiệp niêm yết thật sự không cao. Tình trạng báo cáo tài chính doanh nghiệp bị ngoại trừ các khoản trọng yếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả kinh doanh cho đến hiện tượng báo cáo tài chính mặc dù được kiểm toán chấp nhận toàn bộ nhưng doanh nghiệp vẫn có nguy cơ phá sản hoặc giải thể cao đã ngày càng phổ biến.