CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH HIỆN ĐẠI TRONG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ 1. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ. Danh mục đầu tư. Khái niệm: “Danh mục đầu tư (Investment Portfolio) là sự kết hợp nắm giữ các loại chứng khoán, hàng hóa, bất động sản, các công cụ tương đương tiền mặt hay các tài sản khác bởi một cá nhân hay một nhà đầu tư thuộc tổ chức.
Mục đích của danh mục đầu tư là làm giảm rủi ro bằng cách đa dạng hoá đầu tư”. Với suy nghĩ dân dã là: “Không bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ”, cùng với sự phát triển của thị trường tài chính làm phong phú đa dạng các loại tài sản tài chính và công cụ đầu tư. Đồng thời, các lý thuyết đầu tư hiện đại và nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy hiệu quả rõ nét của việc giảm thiểu rủi ro bằng việc đa dạng hoá DMĐT. Đây chính là quan điểm đầu tư theo danh mục.
Phân loại tài sản trong DMĐT: Theo phân loại của CFA (Chartered Financial Analyst) Institue, các loại tài sản đầu tư chủ yếu thường được nắm giữ bởi các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân bao gồm: Cổ phiếu (Equity Investment) • Cổ phiếu nội địa (Domestic equities) + CP các công ty lớn (Large - apitalization) + CP các công ty nhỏ (Small – apitalization) • Cổ phiếu quốc tế ( International equities) + CP trên thị trường các nước phát triển (Major country market) + CP trên thị trường các nước mới nổi (Emerging market) Các công cụ đầu tư có lợi suất cố định ( Fix – Income Investment): • Cổ phiếu ưu đãi (Prefered Stock) • Trái phiếu (Bonds) + Trái phiếu chính phủ (Governments and Agencies Bond) + Trái phiếu công ty (Corporates): bao gồm trái phiếu có các mức xếp hạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tín nhiệm khác nhau. • Các công cụ có nguồn gốc từ các tài sản được chứng khoán hóa (Asset – Backed Securities): phổ phiến nhất là chứng khoán có nguồn gốc từ các khoản vay bất động sản (Mortgage – backed securities) và các nghĩa vụ nợ có đảm bảo (Collateralized Debt Obligations – CDO) • Các công cụ thị trường tiền tệ (Money market instruments): tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hợp đồng repo… Các công cụ tài chính phái sinh (Derivatives): hợp đồng kỳ hạn (Forward Contracts), hợp đồng tương lai (Futures Contracts), hợp đồng quyền chọn (Option Contracts), hợp đồng hoán đổi (Swap Contracts) … Các hình thức đầu tư khác (Alternative Investments): bao gồm các hình thức đầu tư như: bất động sản, vốn cổ phần riêng lẻ (Private equity), quỹ phòng hộ (Hedge Funds), các loại hàng hoá, ngoại tệ … Các hình thức đầu tư khác này thường có các đặc điểm: tính thanh khoản thấp, thời hạn đầu tư tương đối dài, khó xác định giá thị trường, thiếu các dữ liệu quá khứ về lợi nhuận và rủi ro, yêu cầu phức tạp hơn trong quá trình phân tích…Việc lựa chọn nắm giữ các loại tài sản đầu tư khác nhau, với tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu đầu tư cụ thể của từng nhà đầu tư. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Ngày nay, hoạt động QLDMĐT không còn đơn thuần là nghiệp vụ nội bộ trong các tổ chức tài chính mà nó đã trở thành một dịch vụ được chuyên nghiệp hóa. Dịch vụ QLDMĐT (Portfolio Management Services) là một trong những dịch vụ cơ bản và quan trọng trên thị trường tài chính.
Có rất nhiều tổ chức như: công ty quản lý quỹ, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán … chuyên cung cấp dịch vụ này cho các khách hàng là cá nhân, các doanh nghiệp, công ty đầu tư, quỹ hưu bổng, công ty bảo hiểm, ngân hàng … Dịch vụ này có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: dịch vụ quản lý tài sản, dịch vụ quản lý tài sản cá nhân, dịch vụ quản lý đầu tư, dịch vụ ủy thác đầu tư, dịch vụ ngân hàng cá nhân … 1. Những điều lưu ý khi lập kế hoạch đầu tư: Nhu cầu đầu tư cũng thay đổi theo từng giai đoạn trong cuộc đời. Kế hoạch tài chính của mỗi nhà đầu tư tùy thuộc vào tuổi tác, tình hình tài chính, kế hoạch tương lai, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 mức ngại rủi ro và các nhu cầu khác của nhà đầu tư. Vì vậy nhà đầu tư cần xác định trước khi xây dựng DMĐT.
Chuẩn bị: không một kế hoạch đầu tư nghiêm túc nào có thể được bắt đầu cho đến khi nhà đầu tư tiềm năng đã có đủ thu nhập để trang trải cho chi phí sinh hoạt và dự phòng cho các tình huống bất ngờ có thể xảy ra trong cuộc sống. Bảo hiểm (Insurance): bảo hiểm nhân thọ (BHNT) nên là một phần quan trọng của bất cứ kế hoạch tài chính cá nhân nào. BHNT bảo vệ chính bản thân và những người thân yêu khỏi những khó khăn về tài chính khi rủi ro xảy ra trước khi các mục tiêu về tài chính được hoàn tất. Thiếu sự bảo vệ của bảo hiểm có thể phá hỏng những kế hoạch đầu tư tốt nhất.
Dự trữ tiền mặt (Cash Reserve): các sự cố khẩn cấp, các khoản chi bất ngờ hay các cơ hội đầu tư hấp dẫn…là những tình huống có thể xảy ra. Việc duy trì một lượng tiền mặt dự trữ để ứng phó với các tình huống này là rất quan trọng. Bên cạnh tạo ra một cảm giác an toàn, đồng thời giúp nhà đầu tư giảm thiểu khả năng bị bắt buộc phải bán các khoản đầu tư ở những thời điểm không phù hợp để đáp ứng các khoản chi tiêu khẩn cấp. Vòng đời của tài sản: Giai đoạn tích lũy (Accumulation Phase): là giai đoạn tương ứng với nửa đầu tiên trong quãng thời gian làm việc (thông thường từ ngoài 20 tuổi đến ngoài 40 tuổi).
Giai đoạn này, các cá nhân đều phải cố gắng tích lũy để đáp ứng các nhu cầu cần thiết trước mắt hay dài hạn hơn như tích lũy chuẩn bị cho chi phí giáo dục đại học của con cái, chuẩn bị cho cuộc sống hưu trí… Trong giai đoạn này, giá trị tài sản ròng của các cá nhân còn tương đối nhỏ. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là: thời gian đầu tư của mỗi người còn rất dài đồng thời họ còn có khả năng tạo ra nhiều thu nhập trong tương lai. Các nhà đầu tư cá nhân trong giai đoạn tích lũy này thông thường sẵn sàng chấp nhận rủi ro tương đối lớn để hy vọng có thể kiếm được mức lợi nhuận cao hơn tỷ suất sinh lời trung bình. Giai đoạn củng cố (Consolidation Phase): là giai đoạn tương ứng với nửa sau trong quãng thời gian làm việc của một người (kéo dài từ thời điểm ngoài 40 tuổi cho đến lúc người đó về hưu).
Giai đoạn này, một số mục tiêu ở giai đoạn trước đã được hoàn tất. Thu nhập thường cao hơn so với chi phí và phần vượt này có thể được dùng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 để đầu tư nhằm chuẩn bị cho kế hoạch hưu trí và các kế hoạch tài sản khác trong tương lai. Các khoản đầu tư có mức độ rủi ro vừa phải thường hấp dẫn nhà đầu tư trong giai đoạn này. Nhà đầu tư quan tâm nhiều đến mục tiêu bảo toàn vốn, họ không muốn chấp nhận những khoản đầu tư có mức độ rủi ro lớn có thể đặt tài sản mà họ đã tích lũy được vào tình trạng nguy hiểm.
Giai đoạn tiêu dùng (Spending Phase): là giai đoạn bắt đầu sau khi nghỉ hưu. Bước vào giai đoạn này mỗi người mất đi nguồn thu nhập quan trọng nhất từ lao động do nghỉ hưu. Tuy nhiên chi phí sinh hoạt vẫn có thể được đảm bảo bởi thu nhập từ lươn g hưu , thu nhập từ các khoản đầu tư trước đó kể cả từ các kế hoạch hưu bổng, ngoài ra họ còn có thể có thêm các khoản thu nhập khác từ các công việc bán thời gian hay tư vấn… Giai đoạn này nhà đầu tư chủ yếu theo đuổi mục tiêu bảo toàn vốn. Đồng thời, nhà đầu tư cá nhân cũng mong muốn có thu nhập thường xuyên nhằm trang trải cho các khoản chi phí tăng thêm và phục vụ cho các nhu cầu khác (nghỉ ngơi, du lịch).
DMĐT của họ phải có mức độ rủi ro thấp hơn so với gian đoạn củng cố. Giai đoạn cho tặng (Gift Phase): là giai đoạn cũng tương tự và có thể cùng tồn tại với giai đoạn đoạn tiêu dùng. Trong giai đoạn này, người ta tin tưởng rằng mình đã có đủ thu nhập và tài sản để đảm bảo cho các khoản chi phí của hiện tại và tương lai cũng như duy trì dự trữ cho những tình huống bất trắc. Phần tài sản dôi ra có thể được dùng để hỗ trợ tài chính cho con cái, họ hàng, bạn bè hoặc đóng góp cho các quỹ từ thiện… 1.
Quản lý danh mục đầu tư: mỗi nhà đầu tư tùy vào quan điểm và lợi thế của mình mà có thể chọn cho riêng mình cách thức và sự ưu tiên khác nhau đối với từng công đoạn. Nhưng nhìn chung phải trải qua các giai đoạn cơ bản như sau: 1. Mục tiêu đầu tư (Investment Objectives): Xây dựng mục tiêu bao giờ cũng là khâu đầu tiên của một quá trình quản trị. Việc xây dựng mục tiêu đầu tư đóng vai trò rất quan trọng bởi vì mục tiêu là cơ sở để xây dựng DMĐT, là cơ sở để điều chỉnh DMĐT và là căn cứ để đánh giá hiệu quả hoạt động của DMĐT.
Mục tiêu đầu tư thường phải đề cập đến 3 yếu tố cơ bản như sau: Lợi nhuận mục tiêu (Performance Target): việc xác định cần phải có căn cứ cụ thể và rõ ràng. Phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của mội trường đầu tư và những dự báo về đầu tư trong tương lai. Lợi nhuận mục tiêu thường bao gồm: mục tiêu tăng trưởng vốn, thu nhập thường xuyên và bảo toàn vốn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Mức độ chấp nhận rủi ro (Risk Tolerance): phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: độ tuổi, giới tính, thu nhập, học vấn, kinh nghiệm, cá tính, tố chất tâm lý… Vì vậy nhà đ ầ u tư c ầ n phải xác định được mức độ chấp nhận rủi ro của mình để xây dựng DMĐT phù hợp với bản thân.
Thông thường nhà đầu tư được chia thành 3 nhóm chính: • Nhà đầu tư liều lĩnh (Aggressive Investors): họ sẵn sàng chấp nhận khả năng rủi ro thua lỗ một phần vốn đầu tư để đổi lấy cơ hội tìm kiếm mức lợi nhuận tiềm năng cao hơn. Vì vậy trong DMĐT có thể ưu tiên đầu tư vào cổ phiếu nhất là các cổ phiếu tăng trưởng.