Chương 1. Lý do chọn đề tài Quản lý vốn luân chuyên là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng và cấp bách mà các công ty đang hƣớng tới. Quản lý vốn luân chuyển hiệu quả giúp doanh nghiệp có thể thực hiện mục tiêu chính của mình đó là tối đa hóa lợi nhuận, và tối thiểu hóa chi phí. Chính vì vậy, các công ty rất mong muốn mình có thể sở hữu đƣợc các giám đốc tài chính tài ba, giúp doanh nghiệp mình hoàn thành đƣợc mục tiêu quản lý vốn luân chuyển theo một phƣơng thức hiệu quả nhất có thể, vì lẽ dĩ nhiên, quản lý vốn luân chuyển, sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp hiện nay.
Trên hoạt động kinh doanh thƣờng nhật của các doanh nghiệp Việt Nam, việc duy trì khả năng thanh khoản, hay nói cách khác việc quản lý hiệu quả của vốn luân chuyển là một điều kiện tiên quyết giúp các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể đứng vững và phát triển. Vốn luân chuyển không chỉ ảnh hƣởng đến các kế hoạch trong ngắn hạn của doanh nghiệp đƣợc thực hiện tốt đẹp, mà còn đảm bảo những kế hoạch dài hạn trong tƣơng lai mà đã đƣợc các giám đốc tài chính của doanh nghiệp hƣớng tới. Theo một nghiên cứu gần đây cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2013 – 2017 đã có sự tăng trƣởng đáng ngƣỡng mộ, đơn cử, mức độ tăng trƣởng trong giai đoạn này là đạt khoảng 6,1%, sự phát triển này đi đôi với các chính sách tiền tệ cũng nhƣ việc điều tiết vớn FDI của chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể phủ nhận thực trạng rằng chu kỳ luân chuyển tiền mặt của các công ty đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, đang kéo dài ra.
trong giai đoạn 2013 – 2017, chu kỳ tiền mặt đã kéo dài ra thêm 6 ngày, chính điều này đã cho thấy một sự yếu kém trong quản lý vốn luân chuyển của các nhà quản lý doanh nghiệp. Mặc khác, phần lớn nguồn vốn luân chuyển, xuất phát từ việc các doanh nghiệp đi vay mƣợn từ các tổ chức tín dụng, hay việc các doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nghiệp phát hành một cách “vô tội vạ” cổ phiếu và trái phiếu, chứ không phải thực chất từ bản thân nội tại của các doanh nghiệp. Hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam, đang niêm yết trên sàn chứng khoán, đang có xu hƣớng phát hành các cổ phiếu có giá thấp để nhằm mục đích có thêm nhiều nhà đầu tƣ, đặt tài sản của mình cho công ty, các cổ phiếu đƣợc chào bán với giá rất thấp, và gần nhƣ là “cho không biếu không”. Nếu nhìn theo cái nhìn dài hạn thì việc các doanh nghiệp Việt phát hành nhiều cổ phiếu với giá thấp, hay nói cách khác là hiện tƣợng “pha loãng cổ phiếu”, một cách “hết sức lạm dụng” và “vô tội vạ” sẽ làm ảnh hƣởng rất lớn đến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu thu đƣợc ở các năm tiếp theo.
Nhƣ vậy việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển sẽ có những tác động nhƣ thế nào đến các công ty Việt Nam? Có sự khác biệt gì giữa một doanh nghiệp quản lý thật hiêu quả vốn luân chuyển với một doanh nghiệp chƣa làm tốt công tác này? Sự thật là các doanh nghiệp quản lý tốt vòng quay vốn luân chuyển, sẽ rút ngắn thời gian quay vòng của đồng vốn xuống còn khoảng 12 ngày, thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp chƣa thật sự làm tốt công tác này, giảm số ngày luân chuyển xuống thấp hơn gấp 20 lần. Một doanh nghiệp có khả năng chủ động trong việc quản lý hiểu quả vốn luân chuyển sẽ thật sự giúp cho doanh nghiệp mình ít phụ thuộc vào các đồng vốn vay mƣợn từ các tổ chức tín dụng cũng nhƣ vay mƣợn từ công chúng thông qua các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Nhƣ vậy các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn ở khâu nào để có thể làm tốt công tác quản lý vốn luân chuyển. Cốt lõi chính nằm ở việc quản lý các khoản phải thu của khách cũng nhƣ việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp, chỉ khi doanh nghiệp có thể chủ động lên kế hoạch quản lý những thông số liên quan đến khoản phải thu, cũng nhƣ các thông số về hàng tồn kho, doanh nghiệp mới có thể từng bƣớc cải thiện số ngày trong chu kỳ quay của vốn luân chuyển.
Nguồn: https://www.com/vn/vn/media/press-release/wcm_study_press%20release_vn.pdf LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra rằng, có một sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Việt Nam, thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy nhiều biến, cho các doanh nghiệp phi tài chính đƣợc niêm yết trên hai sàn chứng khoán lớn nhất Việt Nam, là HOSE và HNX. Dựa trên kết quả có đƣợc từ mô hình hồi quy, tác giả sẽ đƣa ra những khuyến nghị cho hƣớng phát triển sắp tới của doanh nghiệp, cũng nhƣ việc mở rộng đề tài nghiên cứu này. Câu hỏi nghiên cứu Kết quả bài nghiên cứu nhằm giải quyết những câu hỏi sau, Thứ nhất, liệu rằng có một sự tác động nào trong việc quản lý vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp? Nếu có tồn tại, thì tác động đó sẽ là đồng biến, hay nghịch biến? Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam có thể có những cách thức nhƣ thế nào để giúp gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mình? 1.
Phạm vi nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng các công ty phi tài chính đƣợc niêm yết trên hai sàn chứng khoán lớn nhất Việt Nam, là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh Stock Exchange – HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (Hanoi Stock Exchange), với giai đoạn nghiên cứu 2015-2018, và tổng số công ty đƣợc lựa chọn là 30 công ty, kèm danh sách các công ty cụ thể tại phụ lục 2. Các nhóm ngành đƣợc đƣa vào mô hình là nhóm ngành kỹ thuật xây dựng, chăm sóc sức khỏe và hàng tiêu dùng. Các công ty có hoạt động kinh doanh thuộc nhóm ngành này đƣợc đánh giá là có một sự yếu kém trong công tác quản lý vòng quay của vốn luân chuyển. Chúng ta cũng không quên nhắc đến các nhóm ngành có những bƣớc chuyển mình mạnh mẽ, đi tiên phong trong việc làm tốt công tác quản lý vốn luân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chuyển, đó là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành năng lƣợng – tiện ích khác, dầu mỏ – khí đốt, và nhóm ngành thƣơng mai, với mức ghi nhận khoảng tăng khoảng 15% một năm, bên cạnh đó, các nhóm ngành công nghệ – truyền thông, hàng tiêu dùng, và nhóm ngành kim loại – khai khoáng, lại đƣợc ghi nhận với mức sụt giảm khoảng 10% một năm.
Vậy thì với việc tồn động của tiền mặt, thông qua việc quản lý yếu kém vốn luân chuyển có thể đƣợc giải phóng ra nhƣ thế nào nếu các doanh nghiệp Việt Nam thay đổi bộ máy quản lý nguồn vốn. Đồng thời đứng trƣớc thách thức nguồn vốn nƣớc ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều, thông qua việc đầu tƣ của các doanh nghiệp nƣớc ngoài, với tiềm lực kinh tế hùng hậu. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi nhƣ thế nào để có thể bắt kịp đà tăng trƣởng của kinh tế trong thời đại phát triển mạnh mẽ nhƣ hiện nay. Tất cả sẽ xuất hiện trong bài nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy sử dụng phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (Ordinary Least Square – OLS) để nêu lên sự tác động của quản lý vốn luân chuyển, đƣợc đại diện bởi việc quản lý hiện quả chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lƣu kho, và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Từ mô hình hồi quy, các tác động đồng biến, hay nghịch biến sẽ đƣợc thể hiện thông qua các hệ số. Kết cấu luận văn Bài nghiên cứu đƣợc kết cấu bao gồm 5 chƣơng, Chƣơng 1: Giới thiệu, nhƣ đang đƣợc trình bày tại đây. Chƣơng 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trƣớc đây, nêu lên các lý thuyết cơ bản về các thuật ngữ đƣợc sử dụng trong bài nghiên cứu, bên cạnh đó, nêu lên các nghiên cứu liên quan trƣớc đây, đã từng đƣợc thực hiện ở trong, và ngoài nƣớc Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu, nêu lên các giả thuyết của mô hình, và mô tả các biến sẽ xuất hiện trong mô hình hồi quy, đồng thời nêu cụ thể nguồn dữ liệu đƣợc sử dụng để thực hiện mô hình nghiên cứu.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu, nêu lên các kết quả đƣợc thể hiện trong mô hình về sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển, đại diện bởi chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lƣu kho, và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Chƣơng 5: Kết luận và khuyến nghị, dựa trên kết quả thu đƣợc tác giả đƣa ra những khuyến nghị, cũng nhƣ hƣớng mở rộng bài nghiên cứu này, thông qua việc nghiên cứu sự tác động của một số yếu tố khác đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, từ đó, có thể giúp doanh nghiệp cải thiện khả năng sinh lợi của mình, bằng việc cải thiện các yếu tố có tác động đến việc tạo ra lợi nhận của công ty mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2. Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 2.
Vốn luân chuyển Có rất nhiều khái niệm đƣợc các nhà kinh tế học đƣa ra để định nghĩa về vấn đề kinh tế vốn luân chuyển, chúng ta hãy cùng điểm ra một số định nghĩa đã đƣợc đề xuất. Guthmann (1953) đã đề xuất “Vốn luân chuyển là sự chênh lệch giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn”, còn Hoglend và Adams (1962) lại định nghĩa nhƣ sau “Vốn luân chuyển không cố định , nhƣng cơ bản có thể định nghĩa vốn này nhƣ là sự chênh lệch giữa giá trị sổ sách của tổng tài sản và tổng nguồn vốn. Bên cạnh đó, Weston và Brigham (1975) cũng đề xuất rằng “Vốn luân chuyển là việc công ty đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn, nhƣ tiền và các chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu và hàng tồn kho”, trong khi đó, Kuchhal (1982) lại định nghĩa vốn luân chuyển theo một hƣớng khác, nhƣ sau “Tổng vốn luân chuyển có thể đƣợc dùng để nói đến tổng tài sản, còn vốn luân chuyển thực thì lại đƣợc dùng để nói đến thặng dƣ giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn”.