Chương 1: Tổng quan - Chương này giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2 : Cơ sở lý luận - Chương này trình bày các lý luận có liên quan đến chính sách cổ tức, biến động giá cổ phiếu và ảnh hưởng của chính sách cổ tức tới giá cổ phiếu, các nghiên cứu đã từng viết về đề tài này. Chương 3: Phương pháp luận nghiên cứu - Chương này trình bày các biến nghiên cứu, cách thức đo lường, phương pháp nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, nguồn dữ liệu, cách thu thập dữ liệu cho đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương này trình bày thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, kết quả kiểm định giả thuyết và đồng thời thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận - Chương này trình bày kết quả chính của đề tài, trả lời câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 2 : Cơ sở lý luận của đề tài Cổ tức là một trong những cách mà một công ty chuyển hướng thu nhập của mình cho các cổ đông. Cổ tức có thể được thanh toán dưới dạng trả tiền mặt hoặc phát hành thêm cổ phiếu mới. Trong trường hợp trả cổ tức bằng cổ phiếu, tổng số cổ phiếu lưu hành tăng và thường làm giảm giá trên mỗi cổ phiếu.
Vì vậy nghiên cứu này chỉ xét tới những cổ tức được chi trả bằng tiền mặt. Chính sách cổ tức đề cập đến việc một công ty xác định số tiền chi trả cổ tức và số tiền để tái đầu tư vào các dự án mới. Chính sách này quyết định phân phối thu nhập của công ty giữa thanh toán cho cổ đông và tái đầu tư vào các cơ hội mới. Trong tài chính doanh nghiệp, một trong những quyết định quan trọng nhất liên quan đến câu trả lời của câu hỏi này là lợi nhuận của công ty sẽ được phân phối bao nhiêu cho cổ đông và bao nhiêu dùng trong tái đầu tư vào cơ hội mới? Để trả lời câu hỏi này, các nhà quản lý phải xem xét chính sách cổ tức nào sẽ giúp tối đa hóa sự giàu có của cổ đông và họ không nên chỉ tập trung vào câu hỏi này là cần bao nhiêu thu nhập của công ty để đầu tư.
Thay vào đó, họ cũng phải xem xét tác động của quyết định của họ đối với việc làm biến động giá cổ phiếu. Chính sách cổ tức cũng có quan hệ đến cơ cấu vốn gián tiếp và các chính sách cổ tức khác nhau có thể yêu cầu các cơ cấu vốn khác nhau. Vì cả cơ cấu vốn và chính sách cổ tức đều có thể ảnh hưởng đến sự giàu có của cổ đông công ty và chính sách cổ tức có thể ảnh hưởng đến cơ cấu vốn. Trong tài chính doanh nghiệp sơ khai, chính sách cổ tức chỉ liên quan đến việc lựa chọn giữa các khoản thanh toán thu nhập cho cổ đông là cổ tức bằng tiền mặt hoặc giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư vào các dự án mới.
Nó xác định tỷ lệ chi trả cổ tức và số tiền cổ tức. Tuy nhiên, trong tài chính doanh nghiệp hiện đại, chính sách cổ tức giải quyết nhiều vấn đề hơn như cách các công ty có thể thu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hút các nhà đầu tư trong các khung thuế khác nhau và cách các nhà quản lý công ty có thể tăng giá trị thị trường cổ phiếu của công ty,… 2. Cơ sở lý thuyết Tác động của chính sách cổ tức tới biến động giá cổ phiếu đã được nhiều tác giả nghiên cứu nhưng chưa có một kết quả thống nhất. Nhiều nghiên cứu cho rằng chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp, do đó không ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu: Miller & Modigliani (1961) đề xuất lý thuyết cho rằng chính sách cổ tức không có tác động đến giá trị doanh nghiệp cho rằng trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, tồn tại quy luật bảo tồn giá trị, việc mua bán chứng khoán là mua bán song hành thì chính sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp.
Mô hình của Miller và Modigliani (1961), giả định là không có chi phí giao dịch nào có liên quan và không có thuế hoặc thuế suất bằng nhau cho cả cổ tức và lợi nhuận vốn. Họ cũng giả định rằng một thị trường vốn hoàn hảo tồn tại, tại đó giá thị trường không thể bị ảnh hưởng bởi một người mua hoặc người bán duy nhất. Thông tin về thị trường có sẵn cho tất cả mọi người, không có vấn đề gì về chi phí đại diện. Họ lập luận rằng cổ tức và lợi nhuận vốn được tính cho cổ đông.
Khi một công ty chọn phân phối lợi nhuận bằng cách chi cổ tức cho các cổ đông của mình, thì vào ngày trả cổ tức giá cổ phiếu sẽ được giảm tự động bằng tỷ lệ cổ tức trên mỗi cổ phiếu. Vì vậy, họ đề xuất rằng trong một thị trường hoàn hảo, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến lợi tức của cổ đông. Lý thuyết này dùng nhiều giả định của thị trường hoàn hảo mà thực tế nhiều quốc gia khó có thể đáp ứng được như không có thuế thu nhập cá nhân, không có chi phí giao dịch , không có chi phí phát hành cổ phần mới, không có bất đối xứng thông tin,… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Việt Nam cũng nằm trong số những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, chưa theo kịp các nước có nền kinh tế hiện đại, tiên tiến; thị trường chứng khoán nước ta vẫn còn non trẻ, các hoạt động trong thị trường không hoàn toàn minh bạch, việc tiếp cận thông tin không phải dễ. Việc các nhà đầu tư đổ xô đi mua hoặc bán một số lượng lớn chứng khoán cũng gây ảnh hưởng lớn tới hoạt động thị trường vẫn thường xảy ra.
Hay nhiều nhà đầu tư không có kiến thức trong việc đầu tư chứng khoán dẫn đến việc thông tin phản ánh vào giá cổ phiếu không chính xác, thị trường không hoàn hảo. Một loạt các quan điểm khác cho rằng chính sách cổ tức ít nhiều cũng tác động đến giá trị doanh nghiệp và phản ánh vào giá cổ phiếu của công ty dẫn đến biến động giá cổ phiếu của công ty: Trường phái hữu khuynh bảo thủ, đứng đầu là MJ Gordon, J lintner, … cho rằng một sự gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp. Gordon (1962) đã tìm ra các bằng chứng thực nghiệm rằng những nhà đầu tư không ưa thích rủi ro sẽ ưa thích cổ tức hơn là lãi vốn. Khi gia tăng cổ tức, tăng kỳ vọng đầu tư về công ty, giá cổ phiếu công ty sẽ tăng.
Gordon đã đề xuất một mô hình định giá liên quan giá trị thị trường của cổ phiếu với chính sách cổ tức. Gordon đã nghiên cứu chính sách cổ tức và giá thị trường của cổ phiếu và đề xuất rằng chính sách cổ tức của các công ty ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các cổ phiếu ngay cả trong thị trường vốn hoàn hảo. Ông nói rằng các nhà đầu tư có thể thích cổ tức hiện tại thay vì tăng vốn trong tương lai vì tình hình trong tương lai là không chắc chắn ngay cả khi ở thị trường vốn hoàn hảo. Thật vậy, ông giải thích rằng nhiều nhà đầu tư có thể thích cổ tức trong tay để tránh rủi ro liên quan đến tăng vốn trong tương lai.
Ông cũng cho rằng có một mối liên hệ trực tiếp giữa chính sách cổ tức và giá trị thị trường của cổ phiếu ngay cả khi tỷ suất hoàn vốn nội bộ và tỷ suất lợi nhuận bắt buộc sẽ là như nhau. Trong mô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hình tăng trưởng liên tục Gordon (1962), giá cổ phiếu của công ty phụ thuộc vào dòng chiết khấu của cổ tức trong tương lai. Trường phái tả khuynh cấp tiến : Đại diện là John A britain, Brenan cho rằng một sự gia tăng trong tỷ lệ chi trả cổ tức sẽ làm giảm giá trị doanh nghiệp do cổ động ưa thích chi trả cổ tức thấp giúp cổ đông tiết kiểm được một khoản thuế phải nộp dẫn đến sự gia tăng thu nhập sau thuế của cổ đông, và họ cũng muốn ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thay vì phải tốn chi phí phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn. Lý thuyết “chim trong tay” (Bird-in-hand theory) : Giải thích lý do tại sao các nhà đầu tư có thể thích cổ tức hơn là lợi nhuận vốn do sự chắc chắn của cổ tức, so với lợi nhuận vốn không chắc chắn.
Điều này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến các cổ đông khi đưa ra các phương án đầu tư dài hạn. Trong nền giai đoạn kinh tế không chắc chắn và bất đối xứng thông tin, cổ đông sẽ thích cổ tức hơn là lãi vốn, cổ tức được định giá khác với thu nhập còn lại (Husam-Aldin, 2007); khi lãi suất tăng lên dẫn đến giá trị hiện tại của lợi nhuận giữ lại kém thu hút hơn chia cổ tức. Giả định được đưa ra rằng các nhà đầu tư bên ngoài được tiếp xúc với thông tin không hoàn hảo về lợi nhuận của công ty và cổ tức tiền mặt bị đánh thuế ở mức cao hơn so với lợi nhuận vốn. Từ những hạn chế này, (Bhattacharya, 1979) cho rằng cổ tức có chức năng như một tín hiệu của dòng tiền dự kiến.
Tín hiệu này được gửi tới các cổ đông làm biến động giá cổ phiếu. Lý thuyết chi phí đại diện - Agency cost theory: Vấn đề giữa chủ sở hữu và người quản lý nảy sinh do có sự xung đột lợi ích tồn tại giữa quản lý và cổ đông, và do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành trong điều kiện thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng. Tuy rằng, sự tách biệt này tạo ra chi phí đại diện nhưng lại thực sự rất cần thiết, bởi: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ nhất, các công ty cổ phần càng lớn sẽ càng có nhiều cổ đông, cổ đông của các doanh nghiệp lớn ngày nay rất phân tán, vì vậy để tất cả các cổ đông cùng tham gia quản lý một doanh nghiệp hay quyết định một vấn đề nào đó sẽ gây ra nhiều khó khăn. Việc này dẫn đến quyết định rằng các cổ đông cần một nhà quản lý để thay mặt các cổ đông điều hành và quản lý dưới quyền của họ.