Tổng quan nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào vận hành từ ngày 20/7/2000 và đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc sau hơn 10 năm hoạt động. Quy mô vốn hóa thị trường đã bùng nổ gần 600 lần, từ con số khiêm tốn 986 tỉ đồng, tương đương 0,28% GDP năm 2000, lên tới 591.344 tỉ đồng, chiếm 36,01% GDP vào cuối năm 2010. Song song với đó, số lượng cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh tăng trưởng bình quân 28,26% mỗi năm trong giai đoạn 2006-2010, đạt 283 mã. Tuy nhiên, sự phát triển nóng cũng bộc lộ nhiều điểm nghẽn và tính bất ổn cao, thể hiện qua những biến động dữ dội của chỉ số VN-Index từ mức đỉnh 1.170,67 điểm vào tháng 3/2007 rơi tự do xuống đáy 261,54 điểm vào đầu năm 2009.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ cơ chế tác động và định lượng mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ mô với diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam. Việc kế thừa các kết quả thực nghiệm từ các thị trường phát triển như Mỹ hay Nhật Bản không mang tính khả thi, do Việt Nam sở hữu nền kinh tế đang phát triển với độ mở thương mại cao nhưng hệ thống tài chính nội địa chưa hoàn thiện.

Nghiên cứu hướng tới bốn mục tiêu cụ thể: phân tích trực quan biến động theo thời gian thực giữa các chỉ tiêu vĩ mô và chỉ số giá cổ phiếu; kiểm định quan hệ nhân quả tức thời trong ngắn hạn; xác định trạng thái cân bằng ổn định trong dài hạn; từ đó đưa ra các hàm ý chính sách và khuyến nghị đầu tư. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu 129 quan sát theo tháng, kéo dài liên tục từ tháng 7/2000 đến tháng 3/2011. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc hỗ trợ các cơ quan quản lý điều tiết dòng vốn, đồng thời giúp nhà đầu tư xây dựng chiến lược quản trị rủi ro hệ thống hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage Pricing Theory - APT) do Stephen Ross phát triển năm 1976. Khác với Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) vốn chỉ dựa trên rủi ro thị trường đơn nhất, mô hình APT thừa nhận rằng tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản tài chính chịu sự chi phối của một tập hợp đa dạng các nhân tố rủi ro hệ thống vĩ mô. Bên cạnh đó, Lý thuyết số lượng tiền tệ kết hợp với hiệu ứng Fisher (Mankiw, 1997) được vận dụng để lý giải tác động của mức cung tiền và kỳ vọng lạm phát tới mức giá tài sản và chi phí vốn của doanh nghiệp.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh năm khái niệm cốt lõi:

  • Cung tiền mở rộng M2 biểu thị tổng phương tiện thanh toán phản ánh tính thanh khoản của hệ thống kinh tế.
  • Lạm phát đo lường qua chỉ số giá tiêu dùng CPI đại diện cho áp lực trượt giá và chi phí đẩy.
  • Lãi suất cho vay bình quân đại diện cho chi phí sử dụng vốn và chi phí cơ hội của nhà đầu tư.
  • Tỷ giá hối đoái VND/USD phản ánh năng lực cạnh tranh thương mại và rủi ro dòng vốn ngoại.
  • Mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) thể hiện cơ chế tự điều chỉnh của thị trường về trạng thái cân bằng dài hạn sau các cú sốc bất thường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm toàn bộ 129 quan sát tháng của các biến số vĩ mô và chỉ số VN-Index trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đến tháng 3/2011. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ theo chuỗi thời gian khả dụng kể từ thời điểm thị trường chứng khoán Việt Nam khai trương giao dịch. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất đồng bộ từ cơ sở dữ liệu của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFS CD-ROM).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chuỗi thời gian hiện đại thay vì mô hình hồi quy bình phương tối thiểu thông thường (OLS) xuất phát từ bản chất của các chuỗi số liệu tài chính vĩ mô. Dữ liệu tài chính thường xuyên có xu hướng không dừng, nếu ước lượng bằng OLS truyền thống sẽ dễ dẫn đến hiện tượng hồi quy giả mạo với hệ số kiểm định thiếu chính xác. Do đó, nghiên cứu triển khai quy trình định lượng đa bước:

  • Kiểm định nghiệm đơn vị theo phương pháp Dickey-Fuller bổ sung (ADF) và kiểm định Phillips-Perron (PP) nhằm xác định bậc tích hợp của chuỗi dữ liệu ở sai phân bậc một.
  • Xác định độ trễ tối ưu thông qua các tiêu chuẩn thông tin AIC và SC, phục vụ kiểm định quan hệ nhân quả Granger.
  • Kiểm định đồng liên kết đa biến Johansen để xác định số lượng vector đồng liên kết dài hạn giữa các biến số.
  • Thiết lập mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM), phân tích hàm phản ứng đẩy tổng quát (GIRFs) và kỹ thuật phân rã phương sai (Variance Decomposition) trên phần mềm kinh tế lượng EViews 6 kết hợp MATLAB 6.5 nhằm đo lường mức độ giải thích biến động của từng nhân tố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện nổi bật đầu tiên là lãi suất cho vay có mối tương quan nghịch rõ nét và chi phối mạnh mẽ nhất đến biến động của chỉ số VN-Index. Trong giai đoạn khủng hoảng 2008-2009, khi lãi suất cho vay biến động dữ dội từ đỉnh 19,86% xuống 9,15% rồi tăng trở lại 10,46%, chỉ số VN-Index đã lập tức phản ứng đảo chiều từ 485,25 điểm rơi xuống 261,53 điểm trước khi phục hồi mạnh mẽ lên 536 điểm. Kết quả phân rã phương sai xác nhận lãi suất là một trong những biến số giải thích phần lớn sai số dự báo của thị trường chứng khoán trong dài hạn.

Phát hiện thứ hai chỉ ra rằng cung tiền M2 có tác động thuận chiều mạnh mẽ tới thị trường chứng khoán trong ngắn hạn, song mối quan hệ này không duy trì nhất quán ở mọi chu kỳ. Đơn cử giai đoạn từ tháng 10/2000 đến tháng 01/2001, khi cung tiền M2 tăng trưởng bình quân 4,06% mỗi tháng, VN-Index đã tăng tương ứng trên 18% mỗi tháng. Đỉnh điểm là tháng 12/2006, tốc độ tăng cung tiền M2 đạt 6,2% đã thúc đẩy VN-Index tăng vọt 27,42%. Ngược lại, trong chu kỳ từ tháng 4/2007 đến tháng 01/2008, dù M2 tiếp tục mở rộng ở mức cao 3,03% mỗi tháng nhưng VN-Index lại giảm bình quân 2,44% mỗi tháng do ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát phi mã.

Phát hiện thứ ba khẳng định tỷ giá hối đoái VND/USD và dự trữ ngoại hối có mối liên hệ đồng liên kết dài hạn với thị trường chứng khoán. Khi tỷ giá tăng vọt từ 16.559 VND/USD năm 2008 lên trên 17.867 VND/USD vào cuối năm 2009, VN-Index đã giảm hơn 50% từ mức 531,89 điểm về 261,54 điểm. Ngược lại, giai đoạn dự trữ ngoại hối gia tăng liên tục từ tháng 8/2004 đến tháng 3/2007 đã củng cố niềm tin và tạo đà cho thị trường chứng khoán thăng hoa.

Phát hiện thứ tư ghi nhận giá dầu thế giới có xu hướng tác động thuận chiều với VN-Index trong dài hạn. Vì Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là quốc gia có nguồn thu ngoại tệ đáng kể từ xuất khẩu dầu thô, giá dầu thô tăng từ năm 2002 đến năm 2007 đã hỗ trợ tích cực cho cán cân tài khóa. Trong khi đó, sản lượng công nghiệp phản ánh mối tương quan trực quan khá yếu do hoạt động kinh tế thực cần độ trễ thời gian dài hơn để chuyển hóa vào thị trường tài chính.

Thảo luận kết quả

Mối quan hệ mật thiết giữa chính sách tiền tệ và thị trường chứng khoán tại Việt Nam cho thấy dòng vốn chảy vào sàn giao dịch phần lớn là vốn ngắn hạn của các nhà đầu tư cá nhân với tỷ lệ sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Khi lãi suất cho vay gia tăng, chi phí vốn doanh nghiệp tăng cao làm giảm kỳ vọng lợi nhuận biên, đồng thời chi phí giữ cổ phiếu của nhà đầu tư tăng vọt, buộc họ phải bán tháo cổ phiếu để tất toán nghĩa vụ nợ tín dụng.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các thực nghiệm quốc tế của Chen, Roll và Ross (1986) tại Mỹ, Mukherjee và Naka (1995) tại Nhật Bản khi cùng chỉ ra tác động nghịch chiều của lãi suất đối với giá chứng khoán. Tuy nhiên, thị trường Việt Nam có sự khác biệt rõ rệt so với nghiên cứu tại Hàn Quốc của Goswami và Jung (1997). Tại Hàn Quốc, giá dầu tương quan nghịch với chỉ số KOSPI do quốc gia này phụ thuộc hoàn toàn vào dầu thô nhập khẩu, trong khi tại Việt Nam giá dầu lại thể hiện mối quan hệ đồng biến nhờ vai trò xuất khẩu dầu khoáng sản của nền kinh tế trước năm 2010.

Về phương thức biểu diễn trực quan, các mối quan hệ động học này có thể được trình bày một cách chuẩn xác thông qua biểu đồ kết hợp hai trục tung: trục thứ nhất thể hiện điểm số VN-Index và trục thứ hai biểu diễn lãi suất cho vay cùng tốc độ tăng trưởng cung tiền M2. Mô hình phân tích còn được trực quan hóa bằng bảng ma trận kiểm định đồng liên kết Johansen và biểu đồ phản ứng xung lực tổng quát (GIRFs), minh họa rõ rệt biên độ phản ứng lệch chuẩn của giá chứng khoán kéo dài liên tục từ tháng thứ nhất tới tháng thứ 24 trước một cú sốc vĩ mô.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng và minh bạch, duy trì tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 ổn định ở mức 15-18% mỗi năm trong giai đoạn trung hạn 3-5 năm. Cơ quan quản lý tiền tệ cần tránh các đợt nới lỏng hay thắt chặt tín dụng đột ngột vượt quá biên độ 3% mỗi tháng, đồng thời kiểm soát biên độ lãi suất điều hành linh hoạt nhằm duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ổn định, triệt tiêu nguy cơ sụt giảm thanh khoản dây chuyền trên thị trường chứng khoán.

Thứ hai, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và các Sở Giao dịch Chứng khoán cần thiết lập cơ chế giám sát tỷ lệ đòn bẩy ký quỹ (margin) ở mức an toàn tối đa 50% theo đúng tinh thần của Luật Chứng khoán năm 2006 và các thông tư hướng dẫn. Lộ trình triển khai hệ thống cảnh báo sớm rủi ro dòng tiền cần hoàn tất trong vòng 12-18 tháng nhằm hạn chế tình trạng bán tháo giải chấp hàng loạt và ngăn ngừa các hành vi thao túng giá trục lợi phi pháp.

Thứ ba, Bộ Tài chính phối hợp cùng Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách điều hành tỷ giá hối đoái theo cơ chế thả nổi có quản lý, đồng thời từng bước nâng quy mô quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia đạt ngưỡng an toàn tối thiểu từ 12 đến 16 tuần nhập khẩu trong lộ trình 2011-2015. Việc duy trì dự trữ ngoại hối dồi dào sẽ là tấm lá chắn bảo vệ sức mua đồng nội tệ, hạn chế dòng vốn đầu tư gián tiếp rút chạy khỏi thị trường khi tỷ giá biến động trên 2-3% mỗi năm.

Thứ tư, các cơ quan ban ngành cần đẩy mạnh tái cơ cấu hàng hóa niêm yết trên thị trường tài chính. Tính đến cuối năm 2010, cổ phiếu chiếm áp đảo với 97,18% khối lượng và 90,7% giá trị toàn thị trường, trong khi số lượng trái phiếu niêm yết sụt giảm nghiêm trọng từ 367 loại năm 2006 xuống chỉ còn 49 loại năm 2010. Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh cần khuyến khích các định chế lớn phát hành trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu công trình, đặt mục tiêu nâng tỷ trọng giao dịch trái phiếu lên mức 20-30% tổng giá trị toàn thị trường giai đoạn 2012-2015 nhằm cân bằng rủi ro danh mục.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà đầu tư cá nhân và nhà quản lý danh mục tại các quỹ đầu tư tài chính. Bằng chứng định lượng từ luận văn giúp nhà đầu tư xây dựng mô hình dự báo chu kỳ thị trường, chủ động cơ cấu tỷ trọng tiền mặt và cổ phiếu dựa trên các tín hiệu sớm từ lãi suất cho vay và cung tiền M2 với độ trễ từ 1 đến 3 tháng trước khi thị trường thiết lập đỉnh hoặc đáy.

Nhóm thứ hai là các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Dữ liệu từ mô hình hiệu chỉnh sai số vector cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá độ trễ và tác động truyền dẫn của các công cụ chính sách tiền tệ tới thị trường vốn, tránh việc ban hành các quyết định thắt chặt định lượng quá gấp gáp gây sốc cho thị trường tài sản.

Nhóm thứ ba là ban lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp tại các công ty niêm yết hoặc doanh nghiệp đang thực hiện cổ phần hóa. Luận văn cung cấp góc nhìn sâu sắc về thời điểm huy động vốn cổ phần tối ưu, hỗ trợ doanh nghiệp lựa chọn thời điểm phát hành thêm cổ phiếu hoặc trái phiếu doanh nghiệp khi môi trường vĩ mô và mặt bằng chi phí vốn đang ở trạng thái thuận lợi nhất.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, học viên cao học và chuyên gia phân tích kinh tế lượng tài chính. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình phân tích chuỗi thời gian hiện đại, từ kiểm định nghiệm đơn vị ADF, kiểm định nhân quả Granger, đồng liên kết Johansen đến mô hình VECM và hàm phản ứng xung lực ứng dụng trực tiếp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nhân tố kinh tế vĩ mô nào chi phối mạnh nhất đến chỉ số VN-Index trong dài hạn? Lãi suất cho vay là nhân tố có tác động chi phối nghịch chiều mạnh mẽ nhất tới thị trường. Dữ liệu chuỗi thời gian 129 tháng chỉ ra rằng mỗi khi mặt bằng lãi suất cho vay điều chỉnh giảm như chu kỳ 2008-2009 từ mức 19,86% xuống 9,15%, VN-Index đã lập tức tạo đáy tại 261,53 điểm và tăng vọt trở lại vùng 536 điểm.

Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 và chỉ số VN-Index có luôn đồng biến không? Mối quan hệ này không phải lúc nào cũng cùng chiều. Mặc dù việc mở rộng cung tiền M2 tạo lực đẩy thanh khoản rất lớn trong ngắn hạn như tháng 12/2006 khi M2 tăng 6,2% đưa VN-Index tăng 27,42%, nhưng trong các giai đoạn lạm phát tăng cao như 2007-2008, M2 tăng 3,03% mỗi tháng vẫn chứng kiến thị trường sụt giảm 2,44% mỗi tháng do lo ngại rủi ro trượt giá.

Vì sao chỉ số sản xuất công nghiệp lại phản ánh mối tương quan trực quan khá yếu với giá cổ phiếu? Sản lượng công nghiệp là biến số thuộc khu vực kinh tế thực nên cần thời gian trễ từ 6 đến 12 tháng để tác động vào bảng cân đối kế toán và lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết. Trong khi đó, dòng tiền trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000-2011 mang tính đầu cơ ngắn hạn cao nên thường phản ứng tức thì với tín hiệu tiền tệ thay vì các chỉ tiêu sản xuất nền tảng.

Biến động của giá dầu thế giới tác động tích cực hay tiêu cực tới thị trường chứng khoán Việt Nam? Trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2000 đến đầu năm 2011, giá dầu thế giới thể hiện mối tương quan thuận chiều là chủ đạo với VN-Index. Nguyên nhân chính là do Việt Nam thời kỳ này thu về lượng ngoại tệ rất lớn từ việc khai thác và xuất khẩu dầu thô, giúp cải thiện ngân sách quốc gia và nâng đỡ tâm lý tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.

Tại sao mô hình VECM lại tối ưu hơn phương pháp hồi quy OLS thông thường trong nghiên cứu tài chính vĩ mô? Các chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô và chỉ số giá cổ phiếu qua 129 tháng đều là chuỗi không dừng và cùng tích hợp ở sai phân bậc một. Hồi quy OLS cổ điển trên các chuỗi này sẽ mắc lỗi hồi quy giả mạo với độ tin cậy thấp, trong khi VECM vừa giữ lại thông tin về trạng thái cân bằng dài hạn vừa lượng hóa được tốc độ điều chỉnh sai số trong ngắn hạn.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập một cách khoa học mối quan hệ đồng liên kết dài hạn và cơ chế phản ứng ngắn hạn giữa chỉ số VN-Index với 7 biến số kinh tế vĩ mô thông qua chuỗi dữ liệu 129 quan sát tháng.
  • Lãi suất cho vay và tỷ lệ lạm phát CPI là hai nhân tố tác động tiêu cực mạnh nhất, làm gia tăng chi phí vốn và chiết khấu định giá của toàn bộ các cổ phiếu niêm yết trên thị trường.
  • Cung tiền mở rộng M2 và giá dầu thế giới là hai động lực thanh khoản quan trọng, đóng vai trò kích hoạt các đợt sóng tăng trưởng quy mô lớn của thị trường chứng khoán trong các chu kỳ mở rộng.
  • Thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000-2010 phát triển chưa cân đối khi cổ phiếu chiếm tới 97,18% khối lượng niêm yết, trong khi thị trường trái phiếu suy giảm từ 367 mã xuống còn 49 mã.
  • Việc thực thi nhất quán Luật Chứng khoán năm 2006 cùng các chính sách ổn định vĩ mô là điều kiện tiên quyết để quy mô vốn hóa thị trường vượt ngưỡng 36% GDP một cách bền vững.

Trong giai đoạn tiếp theo của chu kỳ phát triển 2011-2015, các nhà hoạch định chính sách cần tăng cường năng lực giám sát dòng vốn liên thị trường và điều hành lãi suất linh hoạt theo tín hiệu kinh tế. Đối với các nhà đầu tư, việc chủ động ứng dụng mô hình định lượng kinh tế vĩ mô vào chiến lược giải ngân sẽ là giải pháp cốt lõi để tối ưu hóa tỷ suất sinh lợi và phòng ngừa rủi ro chu kỳ một cách vượt trội.