Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 chứng kiến những biến động phức tạp của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là sự gia tăng đột biến của tỷ lệ lạm phát từ mức 6,7% năm 2009 lên 19% vào năm 2011. Trong giai đoạn 2002 - 2009, tốc độ tăng trưởng cung tiền M2 bình quân đạt 32,2%/năm và tăng trưởng tín dụng đạt 37%/năm, tạo sức ép khổng lồ lên thị trường tiền tệ và cán cân thanh toán quốc tế. Thực trạng neo giữ tỷ giá danh nghĩa trong thời gian dài khiến đồng Việt Nam bị định giá cao hơn giá trị thực tế từ 17% đến 23%, làm gia tăng thâm hụt cán cân thương mại và kích thích dòng vốn đầu cơ ngoại tệ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện chính sách điều hành tỷ giá hối đoái nhằm lập lại trật tự thị trường tiền tệ, hạn chế tình trạng đô la hóa và bảo vệ giá trị đối nội lẫn đối ngoại của đồng nội tệ. Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào việc lượng hóa mức độ lệch giá của VND thông qua chỉ số tỷ giá thực hiệu lực đa phương, kiểm định điều kiện Marshall - Lerner đối với mậu dịch ngoại thương và ứng dụng mô hình cân bằng Swan để xác định điểm cân bằng vĩ mô.

Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong mối tương quan với 10 đối tác thương mại lớn nhất suốt giai đoạn 1999 - 2011 và xây dựng kịch bản dự báo cho năm 2012. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để Ngân hàng Nhà nước thu hẹp chênh lệch tỷ giá thị trường chính thức và thị trường tự do xuống dưới mức 0,5%, kiểm soát lạm phát kỳ vọng và hướng tới mục tiêu duy trì tăng trưởng GDP bền vững quanh ngưỡng 6%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý thuyết kinh tế vĩ mô kinh điển về kinh tế mở và điều hành tỷ giá hối đoái. Trọng tâm là mô hình cân bằng Swan do Trevor Swan phát triển năm 1955, phân tích trạng thái đồng thời giữa cân bằng nội (toàn dụng lao động và ổn định giá cả) và cân bằng ngoại (cân bằng cán cân tài khoản vãng lai). Đi kèm với đó là nguyên lý phân bổ công cụ của Jan Tinbergen năm 1952, khẳng định việc đạt được hai mục tiêu cân bằng nội và ngoại đòi hỏi phải kết hợp đồng thời ít nhất hai công cụ chính sách độc lập gồm chính sách thay đổi chi tiêu và chính sách chuyển dịch chi tiêu.

Thuyết ngang giá sức mua (PPP) cung cấp nền tảng xác định tỷ giá cân bằng thông qua chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia trong dài hạn. Để kiểm tra hiệu quả của chính sách phá giá tiền tệ đối với cán cân thương mại, lý thuyết độ co giãn với điều kiện Marshall - Lerner được vận dụng, chỉ ra rằng việc giảm giá nội tệ chỉ cải thiện tài khoản vãng lai khi tổng độ co giãn theo giá của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu lớn hơn 1. Ngoài ra, nghiên cứu tham chiếu mô hình tỷ giá BBC (Basket, Band, Crawl) vốn kết hợp giữa neo theo rổ tiền tệ, biên độ dao động và cơ chế bò trườn linh hoạt. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: Tỷ giá danh nghĩa (NER), Tỷ giá thực song phương (RER), Tỷ giá thực hiệu lực đa phương (REER) và Trạng thái phân kỳ cán cân vãng lai.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu là nguồn dữ liệu thứ cấp theo quý gồm 51 kỳ quan sát liên tục từ Quý 1/1999 đến Quý 3/2011. Các chuỗi số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng CPI và tỷ giá danh nghĩa được trích xuất đồng bộ từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và hệ thống Reuters 3000 Xtra.

Mẫu nghiên cứu lựa chọn 10 đối tác thương mại trọng yếu của Việt Nam gồm Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia và Úc, đại diện cho hơn 86% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu này đảm bảo tính đại diện cao nhất cho sức mua đối ngoại của đồng tiền. Phương pháp phân tích định lượng được triển khai qua kỹ thuật tính toán chỉ số REER với năm cơ sở là năm 1999 (năm sau khủng hoảng tài chính Châu Á khi tỷ giá đạt trạng thái cân bằng tương đối và đồng Euro chính thức xuất hiện). Phương pháp này giúp loại bỏ hoàn toàn các sai lệch khi chỉ quan sát biến động tỷ giá song phương USD/VND, phản ánh chân thực năng lực cạnh tranh thương mại đa phương của Việt Nam trên trường quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tính toán chỉ số REER cho thấy từ năm 1999 đến năm 2005, chỉ số này có xu hướng tăng, phản ánh VND được định giá thấp giúp thúc đẩy xuất khẩu chiếm hơn 70% GDP. Tuy nhiên, bước sang giai đoạn 2008 - 2011, VND rơi vào tình trạng định giá thực quá cao. Cụ thể tại Quý 3/2008, chỉ số REER giảm mạnh xuống mức 89,842 điểm, đồng nghĩa với việc đồng nội tệ bị cường giá 10,158% so với giá trị thực. Đến Quý 3/2011, REER đạt 91,881 điểm, giảm 15,3% so với Quý 4/2000, làm suy giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa.

Thứ hai, thị trường ngoại hối tồn tại sự phân hóa sâu sắc giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do. Giai đoạn 2009 - 2010, khoảng cách chênh lệch hai thị trường thường xuyên duy trì ở mức 7% đến 8%, thúc đẩy dòng tiền găm giữ ngoại tệ và nhập lậu vàng. Khoản mục sai sót ròng trong cán cân thanh toán quốc tế năm 2009 lên tới 10 tỷ USD và năm 2010 là 4 tỷ USD, phần lớn bắt nguồn từ hoạt động buôn lậu kim loại quý và chuyển vốn ngầm ra nước ngoài.

Thứ ba, đợt điều chỉnh tỷ giá mang tính lịch sử vào ngày 11/02/2011 đã ghi nhận bước đột phá khi Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá bình quân liên ngân hàng thêm 9,3% từ 18.932 VND/USD lên 20.693 VND/USD, đồng thời thu hẹp biên độ từ 3% xuống 1%. Quyết định điều chỉnh mạnh kết hợp Nghị định 95 với mức phạt vi phạm hành chính tới 500 triệu đồng đã triệt tiêu độ lệch thị trường tự do, tạo điều kiện cho Ngân hàng Nhà nước mua ròng 5 tỷ USD bổ sung dự trữ ngoại hối chỉ trong 7 tháng đầu năm 2011.

Thứ tư, phân tích thực nghiệm trên mô hình đồ thị Swan xác định vị thế kinh tế vĩ mô Việt Nam giai đoạn 2009 - 2011 nằm hoàn toàn tại vùng góc phần tư thứ nhất, nơi nền kinh tế đối mặt với áp lực lạm phát cao (trên 18%) kết hợp thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai kéo dài ở mức 5,8% GDP.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự suy giảm của REER và áp lực tỷ giá bắt nguồn từ việc nới lỏng chính sách tiền tệ trong thời gian dài. Giai đoạn 2007 - 2008, dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam lên tới 45 tỷ USD (trong đó kiều hối đạt 13 tỷ USD, dòng vốn tư nhân đạt 23 tỷ USD) nhưng không được vô hiệu hóa kịp thời. Cung tiền 2 năm này tăng tổng cộng 80% trong khi GDP chỉ tăng trưởng 15%, đẩy lạm phát vượt mốc 20%. Hệ quả là tốc độ tăng giá trong nước vượt xa đối tác thương mại, làm triệt tiêu tác động tích cực của các đợt điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa nhỏ giọt.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính Thái Lan năm 1997 cho thấy việc neo giữ tỷ giá cố định ở mức 25 Baht/USD khi thâm hụt vãng lai lên tới 7,9% GDP đã dẫn đến sự sụp đổ của đồng tiền. Ngược lại, Trung Quốc áp dụng thành công chế độ BBC với biên độ hẹp 2%/năm và bước trườn 0,06%/ngày giúp duy trì thặng dư ngoại thương bền vững. Dữ liệu của luận văn được mô phỏng sinh động qua chuỗi đồ thị phân tích hồi quy tương quan và sơ đồ tọa độ Swan, khẳng định Việt Nam không thể duy trì cơ chế neo tỷ giá cứng nhắc vào một ngoại tệ duy nhất là USD mà cần điều chỉnh linh hoạt theo rổ tiền tệ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá sang cơ chế neo theo rổ tiền tệ linh hoạt (mô hình BBC) bao gồm 10 đồng tiền của các đối tác thương mại lớn. Ngân hàng Nhà nước cần chủ trì thiết lập biên độ dao động tỷ giá danh nghĩa định kỳ từ 1% đến 2%/năm trong giai đoạn 2012 - 2015, đưa chỉ số REER dao động ổn định quanh trục 98 đến 102 điểm nhằm đảm bảo năng lực cạnh tranh ngoại thương mà không gây sốc tâm lý thị trường.

Thứ hai, thực hiện chính sách giảm giá đồng Việt Nam danh nghĩa có kiểm soát với mức độ từ 2% đến 4%/năm, bám sát chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và các đối tác. Biện pháp này hướng tỷ giá danh nghĩa dần tiệm cận tỷ giá thực hiệu lực, hỗ trợ xuất khẩu tăng trưởng trên 12%/năm và từng bước kéo giảm tỷ lệ nhập siêu xuống dưới 10% kim ngạch xuất khẩu.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để giải quyết bài toán cân bằng vĩ mô theo mô hình Swan. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần kiên định mục tiêu kiểm soát tăng trưởng cung tiền M2 trong khoảng 14% đến 16%/năm, khống chế tăng trưởng tín dụng dưới 15%/năm, đồng thời cắt giảm thâm hụt ngân sách nhà nước từ mức 6,9% xuống dưới 4,5% GDP nhằm hạ nhiệt lạm phát về mức một con số (dưới 7%).

Thứ tư, tái cấu trúc thị trường ngoại hối và xóa bỏ triệt để hiện tượng thị trường hai giá. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục duy trì trần lãi suất tiền gửi USD cá nhân ở mức 2%/năm và tổ chức ở mức 0,5%/năm, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ lên 7%, đồng thời phát triển các công cụ phái sinh hoán đổi Swap và kỳ hạn Forward tại các ngân hàng thương mại, phấn đấu chấm dứt hoàn toàn tình trạng đô la hóa nền kinh tế trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chuyên viên hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sẽ tìm thấy trong luận văn khung phương pháp luận định lượng chỉ số REER 10 đồng tiền cùng mô hình Swan, phục vụ trực tiếp công tác dự báo tỷ giá cân bằng và xây dựng kịch bản điều hành tiền tệ quốc gia.

Khối phân tích thị trường tài chính và kinh doanh nguồn vốn tại các ngân hàng thương mại có thể khai thác các mô hình lượng hóa độ lệch tỷ giá để thiết lập biểu lãi suất huy động ngoại tệ tối ưu, quản trị rủi ro thanh khoản và định giá chuẩn xác các hợp đồng hối đoái phái sinh.

Giám đốc tài chính và nhà quản trị tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu quy mô lớn có thể sử dụng dữ liệu kiểm định độ trễ tỷ giá và điều kiện Marshall - Lerner để hoạch định chiến lược thanh toán quốc tế, chủ động phân bổ cơ cấu tiền tệ thanh toán nhằm giảm thiểu rủi ro biến động tỷ giá.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên khối ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng có thể sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích chuỗi thời gian 51 quý, ứng dụng toán kinh tế lượng trong việc giải quyết bài toán tỷ giá của các nền kinh tế đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách neo tỷ giá vào USD giai đoạn 2000 - 2010 đã tác động thế nào đến giá trị đồng Việt Nam? Việc neo giữ tỷ giá danh nghĩa cố định trong khi lạm phát nội địa bình quân vượt 10%/năm và cung tiền M2 tăng 32,2%/năm đã làm VND bị định giá cao hơn thực tế từ 17% đến 23%. Hệ quả là hàng hóa xuất khẩu mất dần sức cạnh tranh và nhập siêu tăng cao.

Chỉ số REER mang lại giá trị phân tích vượt trội gì so với tỷ giá song phương USD/VND? Tỷ giá song phương chỉ phản ánh giá tương đối giữa hai đồng tiền, trong khi REER đo lường sức mua đối ngoại thực tế của VND so với rổ 10 ngoại tệ đối tác chiếm 86% kim ngạch ngoại thương, đã loại trừ yếu tố chênh lệch lạm phát đa phương.

Vì sao việc phá giá danh nghĩa 9,3% vào tháng 2 năm 2011 là quyết định tất yếu? Tại thời điểm cuối năm 2010, tỷ giá tự do cao hơn tỷ giá chính thức tới 8% và REER lệch sâu khỏi mức cân bằng. Quyết định tăng tỷ giá thêm 9,3% đã xóa bỏ hiện tượng hai giá, giúp Ngân hàng Nhà nước mua được 5 tỷ USD dự trữ ngoại hối.

Điều kiện Marshall - Lerner áp dụng tại Việt Nam cho thấy điều gì về hiệu quả của việc phá giá? Kiểm định thực nghiệm chỉ ra rằng tổng độ co giãn xuất nhập khẩu của Việt Nam lớn hơn 1, chứng minh việc giảm giá VND hợp lý sẽ giúp cải thiện cán cân thương mại sau khoảng thời gian trễ nhất định khi hàng hóa nội địa giành lại lợi thế về giá.

Mô hình đồ thị Swan khuyến nghị giải pháp nào cho tình trạng thâm hụt kép tại Việt Nam? Mô hình Swan chứng minh không thể dùng một công cụ đơn lẻ để giải quyết tình trạng vừa lạm phát vừa thâm hụt vãng lai. Cần kết hợp đồng thời chính sách thắt chặt chi tiêu (kiểm soát cung tiền, giảm bội chi) với chính sách chuyển dịch chi tiêu (phá giá VND nhẹ có kiểm soát).

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa chính xác mức độ lệch giá của VND giai đoạn 1999 - 2011, chỉ ra rằng chỉ số REER giảm sâu xuống 89,842 điểm vào Quý 3/2008 khiến nội tệ bị định giá cao hơn 10,158% so với giá trị thực.
  • Nghiên cứu chứng minh sự bùng nổ cung tiền M2 với mức tăng 80% trong hai năm 2007 - 2008 là nguyên nhân gốc rễ thúc đẩy lạm phát 20% và gây méo mó thị trường ngoại tệ.
  • Công trình khẳng định tính đúng đắn của đợt phá giá 9,3% năm 2011 và đề xuất khung vận hành tỷ giá theo rổ tiền tệ BBC với 10 đồng tiền chủ chốt cho giai đoạn tiếp theo.
  • Lộ trình 2012 - 2015 đặt ra yêu cầu kiểm soát cung tiền dưới 16%/năm, thắt chặt bội chi ngân sách dưới 4,5% GDP và duy trì biến động tỷ giá danh nghĩa trong biên độ hẹp 2% đến 4%/năm.
  • Các nhà hoạch định chính sách và tổ chức tín dụng cần nhanh chóng ứng dụng khung phân tích REER đa phương để chủ động phòng ngừa các cú sốc tài chính toàn cầu và củng cố vị thế tiền tệ quốc gia.