Phần mở đầu Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, ý nghĩa đề tài, và kết cấu của đề tài. Phần nội dung: bao gồm 5 chƣơng nhƣ sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2. Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3.
Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4. Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5. Kết luận và Kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu trên thế giới Lasmin (2011) “An institutional perspective on international financial reporting standards adoption in developing countries”: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định áp dụng IFRS của các quốc gia đang phát triển dƣới bối cảnh thể chế của các quốc gia đó.
Dựa vào lý thuyết thể chế đồng đẳng của DiMaggio và Powell (1983), bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính phân tích mẫu 46 quốc gia đang phát triển. Tác giả lựa chọn khối lƣợng viện trợ mà các nƣớc nhận đƣợc từ các tổ chức quốc tế nhƣ là đại diện cho áp lực bên ngoài của thể chế (cƣỡng chế). Áp lực này có thể kiểm soát đáng kể sự sẵn có của các nguồn lực quan trọng, chẳng hạn nhƣ nguồn tài chính và do đó có thể ảnh hƣởng đáng kể đến quyết định của các nƣớc đang phát triển áp dụng IFRS. Lasmin sử dụng trung bình tổng viện trợ nƣớc ngoài theo tỷ lệ phần trăm GDP từ năm 2005 đến năm 2009, đƣợc tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu từ Các Chỉ số Phát triển của Ngân hàng Thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2010).
Đối với sự cởi mở của nền kinh tế đại diện cho đồng đẳng mô phỏng, tác giả chọn trung bình vốn hóa thị trƣờng theo tỷ lệ phần trăm của GDP từ năm 2005 đến năm 2009, đƣợc tính bằng dữ liệu từ Các Chỉ số Phát triển Thế giới của Ngân hàng Thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2010). Về mặt lý thuyết, một tỷ lệ đáng kể về tài chính chứng khoán trong một nền kinh tế cho thấy rằng một quốc gia đang trở thành tích hợp và cởi mở hơn, do đó có nhiều cơ hội hơn để đƣa các thông lệ kế toán vào phù hợp với các quốc gia áp dụng IFRS. Để nâng cao nghiệp vụ kế toán, tác giả chọn trình độ giáo dục của một quốc gia đại diện là tỷ lệ nhập học trung học của các trƣờng trung học nhƣ một phần trăm của tổng số dân số từ năm 2005 đến năm 2009, cũng đƣợc tính toán bằng cách sử dụng dữ liệu từ các chỉ số phát triển của ngân hàng thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2010). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thông qua IFRS tại các quốc gia đang phát triển có liên quan đáng kể đến áp lực thể chế (tức là đồng đẳng cƣỡng chế, đồng đẳng mô phỏng và quy phạm).
Cụ thể, viện trợ nƣớc ngoài (đại diện cho đồng đẳng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cƣỡng chế), thị trƣờng vốn (đại diện cho đồng đẳng mô phỏng), và mức độ giáo dục (đại diện cho đồng đẳng quy phạm) là những yếu tố ảnh hƣởng mạnh mẽ cho các nƣớc đang phát triển để áp dụng IFRS. Quan trọng hơn, những áp lực về thể chế này có nhiều ảnh hƣởng hơn áp lực kinh tế nhƣ dòng vốn FDI và tăng trƣởng GDP đối với quyết định áp dụng IFRS. Phát hiện này đƣa ra quan điểm mới về việc áp dụng IFRS của các nƣớc đang phát triển bị ảnh hƣởng và thúc đẩy bởi các áp lực xã hội, thể chế, tính hợp pháp hơn là các nguyên nhân kinh tế. Nghiên cứu còn một số hạn chế do sử dụng dữ liệu dựa vào dữ liệu lƣu trữ và điều tra trong một thời gian quan sát tƣơng đối ngắn.
Hassan et al (2014) “The development of accounting regulation in Iraq and the IFRS adoption decision: An institutional perspective”. The International Journal of Accounting: Nghiên cứu khái quát lịch sử phát triển của các quy định kế toán ở Iraq; xem xét các yếu tố ảnh hƣởng tới quyết định áp dụng IFRS và việc mở rộng IFRS ngoài các công ty niêm yết dƣới quan điểm thể chế. Nghiên cứu thấy rằng tất cả ba dạng đồng đẳng thể chế (Cƣỡng chế: Chính phủ liên minh tạm thời và các tổ chức quốc tế, Mô phỏng: các công ty đa quốc gia và các đối tác thƣơng mại, và Quy phạm: Hội nghệ nghiệp kế toán) giải thích quyết định ban đầu Áp dụng IFRS. Lực lƣợng quan trọng nhất trong quyết định áp dụng IFRS là áp lực cƣỡng chế, từ các lực lƣợng phƣơng tây sau sự sụp đổ của chế độ Ba'ath, và từ các tổ chức viện trợ quốc tế.
Hơn nữa, bài nghiên cứu tìm thấy rằng hệ thống kế toán ở Iraq có thể sẽ đƣợc nâng cao hơn nữa do những áp lực mô phỏng và quy phạm từ các đối tác thƣơng mại của Iraq, các tập đoàn đa quốc gia và ngành kế toán. Bài nghiên cứu kết luận về những bài học có thể giúp đỡ các nƣớc đang phát triển khác, và tại các quốc gia cụ thể trong Trung Đông trong việc quyết định áp dụng IFRS. Nhấn mạnh điều quan trọng là việc thông qua IFRS đƣợc đi kèm với cải cách chế độ bảo vệ nhà đầu tƣ và quản lý nhà nƣớc, cùng với việc đầu tƣ cho giáo dục và đào tạo để hỗ trợ triển khai thực hiện. Nếu không, việc chấp nhận IFRS có thể đƣợc coi là chỉ mang tính tƣợng trƣng.
Judge (2011) “National adoption of International accounting standards: An LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 institutional perspective”: Nghiên cứu này tìm hiểu lý do tại sao một số nền kinh tế đã nhanh chóng chấp nhận các chuẩn mực IFRS trong khi một số khác chấp nhận một phần IFRS và các quốc gia khác chƣa áp dụng theo quan điểm thể chế. Một trong những đóng góp chính của nghiên cứu này là sử dụng quan điểm mới về thể chế để mô tả và giải thích mức độ áp dụng các chuẩn mực IFRS. Sau khi kiểm soát vốn hóa thị trƣờng và tăng trƣởng GDP, tác giả cho rằng viện trợ nƣớc ngoài, nhập khẩu và mức độ giáo dục đạt đƣợc trong một nền kinh tế quốc gia đều tiên đoán mức độ mà IFRS đƣợc áp dụng. Tác giả sử dụng dữ liệu lƣu trữ từ 132 các quốc gia trong báo cáo của Deloitte (2008); đại diện cho các nƣớc từ phát triển sang các nƣớc đang phát triển và có vị trí ở Châu Phi, Châu Á, Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Châu Mỹ La Tinh và Châu Đại Dƣơng.
Đây là đại diện cân bằng của các nƣớc trên thế giới về các thiết lập thể chế. Sau khi tiến hành khảo sát thống kê mô tả, bài nghiên cứu đƣa ra kết luận: Việc so sánh các biến thể thể chế với sự biến đổi về văn hoá và các biến pháp lý đƣợc xác định bởi các tài liệu trƣớc (Ding và các cộng sự, 2005; Hope và các cộng sự, 2006) cho thấy các biến thể thể chế là mạnh mẽ hơn trong dự đoán IFRS thông qua. Cụ thể, thấy rằng cả ba hình thức áp lực thể chế (bao gồm cƣỡng chế, mô phỏng và quy phạm) đƣợc đo bằng viện trợ nƣớc ngoài, giá trị nhập khẩu, và trình độ học vấn, đều ảnh hƣởng tới quyết định áp dụng IFRS. Do đó, lý thuyết thể chế với trọng tâm của nó là tìm kiếm hợp pháp các tác nhân xã hội đƣợc dữ liệu hỗ trợ tƣơng đối tốt.
Điều này cho thấy quá trình chấp nhận IFRS đƣợc thúc đẩy bởi áp lực xã hội, hơn là kinh tế. Đặc biệt, áp lực quy phạm đƣợc tìm thấy là dự đoán mạnh nhất về sự chấp nhận của IFRS. Nghiên cứu cũng kết luận rằng lý thuyết thể chế, với sự nhấn mạnh vào việc hợp pháp hoá hành vi đƣợc hỗ trợ bởi dữ liệu cho thấy rằng quá trình thông qua IFRS đƣợc thúc đẩy bởi áp lực hợp pháp hoá hơn là kinh tế. Nghiên cứu tồn tại một số hạn chế quan trọng: Thứ nhất, IFRS trong thực hành không phải lúc nào cũng đƣợc thực hiện đầy đủ các thông lệ kế toán dẫn đến sự minh bạch về tài chính, tính kịp thời và độ tin cậy.
Tuy nhiên, Daske và các cộng sự (2007) gần đây đã phát hiện ra rằng thị trƣờng có thể phân biệt việc chấp nhận IFRS LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 “nghiêm túc” và chấp nhận “danh nghĩa” ở cấp độ công ty. Do đó, nghiên cứu trong tƣơng lai cần nghiên cứu không chỉ việc tiếp nhận mà còn thực tế áp dụng IFRS. Thứ hai, dữ liệu của dựa hoàn toàn vào các nguồn lƣu trữ, phụ thuộc nhiều vào cơ sở dữ liệu Deloitte (2008). Các nghiên cứu trong nƣớc Đối với các nghiên cứu trong nƣớc, nghiên cứu liên quan tới nhân tố thể chế còn khá mới mẻ, và chỉ tập trung vào nhân tố tác động đến vận dụng IFRS, chƣa có nhiều nghiên cứu liên quan tới thể chế tác động đến việc áp dụng IFRS tại Việt Nam.
Đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Phƣơng, 2014: Mục tiêu của bài nghiên cứu là đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến áp dụng IFRS tại Việt Nam từ đó đề xuất một số kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu về cải thiện việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Áp dụng mô hình nghiên cứu trong bài này, thuyết định chế giúp tìm hiểu các nhân tố ảnh hƣởng tới việc áp dụng IFRS tại Việt Nam về khía cạnh: Pháp luật, kinh tế, văn hóa, chính trị. Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn ra 7 nhân tố để nghiên cứu: Văn hóa, tăng trƣởng kinh tế, thị trƣờng vốn, trình độ học vấn, hội nhập kinh tế thế giới, hệ thống pháp luật và chính trị ảnh hƣởng tới việc áp dụng IFRS tại Việt Nam. Nghiên cứu bƣớc đầu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về lý thuyết hành vi dự định và theo thuyết định chế vào việc lựa chọn áp dụng IFRS tại Việt Nam.
Theo thuyết định chế, hành vi của cá thể kinh tế biểu hiện chủ yếu bởi sự chi phối bởi các thông lệ, quy định, luật định của xã hội hay tập thể. Nhƣ đã phân tích, hệ thống pháp luật Việt Nam có ảnh hƣởng lớn đến chuẩn mực kế toán hiện tại cũng nhƣ việc soạn thảo áp dụng IFRS trong tƣơng lai. Lý thuyết này là cơ sở để quyết định ý định áp dụng IFRS tại Việt Nam. Nghiên cứu khảo sát 150 mẫu: Kế toán, kiểm toán, chuyên gia trong thời gian quý 2/2014, phạm vi khu vực Tp.