CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời gian gần đây, mối liên kết giữa thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối nhận được sự chú ý ngày một tăng trong giới nghiên cứu vĩ mô và tài chính. Điều này, một phần, là do các chính sách tự do hóa tài chính và toàn cầu hóa thị trường tài chính quốc tế đã khuyến khích sự gia tăng chu chuyển vốn quốc tế cả cho đầu tư và đa dạng hóa danh mục (Phylaktis và Ravazzolo, 2005). Do đó, sự truyền dẫn tiềm năng giữa thị trường ngoại hối và chứng khoán là điều khả dĩ.
Đứng dưới góc độ lý thuyết, hiện diện mối quan hệ nhân quả giữa giá chứng khoán với tỷ giá hối đoái. Đầu tiên, từ tỷ giá đến giá cổ phiếu; các mô hình tỷ giá hối đoái định hướng dòng chảy (flow–oriented model) (tham khảo Dornbusch và Fischer, 1980) phát biểu rằng sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tính cạnh tranh quốc tế, và đến lượt ảnh hưởng thu nhập và sản lượng thực cũng như giá chứng khoán, là hiện giá chiết khấu của dòng tiền trong tương lai của các doanh nghiệp. Mặt khác, hiệu ứng phản hồi (feedback effect) từ giá chứng khoán đến tỷ giá theo mô hình định hướng chứng khoán (stock–orriented model) (tham khảo Frankel, 1983; Gavin, 1989; Branson, 1993) cho rằng đổi mới thị trường chứng khoán ảnh hưởng tổng cầu và cầu tiền thông qua hiệu ứng giàu có (wealth effect) và thanh khoản (liquidity effect). Điều này dẫn đến việc lãi suất thay đổi, ảnh hưởng dòng chảy vốn và do đó, thay đổi tỷ giá hối đoái.
Tập trung vào tác động của thay đổi tỷ giá lên giá chứng khoán, các nghiên cứu trước đó giả định rằng mối liên kết giữa hai biến số là đối xứng, có nghĩa là giá chứng khoán phản ứng theo cùng mức độ với sự mất giá (depreciation) và tăng giá (appreciation) của nội tệ. Ví dụ, hiệu ứng giá chứng khoán do sự mất giá (tăng giá) tiền tệ là dương (âm) lên các nhà xuất khẩu ròng. Với các nhà nhập khẩu ròng, hiệu ứng giá chứng khoán vận hành theo hướng ngược lại cho cả mất giá và tăng giá tiền tệ. Tuy nhiên, các hiệu ứng bất đối xứng tiềm ẩn trong mối quan hệ được ghi lại rõ ràng trong các mô hình lý thuyết về hành vi của doanh nghiệp như mô hình định giá theo thị trường (PTM), phòng ngừa rủi ro bất đối xứng (Koutmos và Martin, 2003).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Theo Knetter (1994), PTM dẫn đến hiệu ứng tỷ giá bất đối xứng khi các doanh nghiệp cố gắng xây dựng thị phần hoặc đối mặt với những hạn chế về năng lực và ràng buộc về số lượng. Bartram (2004) cũng cho rằng dòng tiền tương lai và rủi ro phá sản cũng gây ra tính phi tuyến và bất cân xứng trong mối quan hệ khi đề cập đến rủi ro tỷ giá hối đoái. Bahmani–Oskooee và Saha (2015) cũng xác nhận khi nội tệ mất giá, một vài doanh nghiệp có thể giảm chi phí đầu vào nhập khẩu cao hơn bằng cách giảm lợi nhuận biên. Theo cách đó, giá cổ phiếu có thể không phản ứng với sự mất giá, ngụ ý rằng tác động của thay đổi tỷ giá có thể không đối xứng.
Theo các lập luận này, giả thuyết về mối liên kết đối xứng giữa giá chứng khoán và thay đổi tỷ giá có thể được coi là quá hạn chế vì nó bỏ qua tính chất bất cân xứng tiềm ẩn trong ảnh hưởng của sự mất giá và tăng giá tiền tệ. Một số nghiên cứu đã nới lỏng giả định đối xứng và tìm thấy sự hỗ trợ cho hiệu ứng bất đối xứng của thay đổi tỷ giá hối đoái đối lên giá chứng khoán (xem ví dụ Miller và Reuer, 1998; Koutmos và Martin, 2003; Bartram, 2004; Hsu, Yau và Wu, 2009). Ví dụ, Bartram (2004) ước tính cả mô hình hồi quy tuyến tính và phi tuyến để cho thấy sự thay đổi tỷ giá (độ nhạy cảm) thể hiện cấu trúc phi tuyến. Đối với những nghiên cứu này, nhược điểm là không thể phân biệt giữa hiệu ứng bất đối xứng dài hạn và ngắn hạn trong tác động của thay đổi tỷ giá.
Điều này vô cùng quan trọng bởi vì tỷ giá ảnh hưởng dòng tiền và giá cổ phiếu theo các khoảng thời gian khác nhau. Với sự phát triển gần đây trong phân tích đồng liên kết phi tuyến, Shin, Yu và Greenwood–Nimmo (2014) đã đề xuất khung mô hình phân phối trễ tự hồi quy phi tuyến (NARDL) như là một đối trọng với mô hình ARDL đối xứng nổi tiếng của Pesaran, Shin và Smith (2001). Khung phân tích mới này là khả thi để hợp nhất tính chất bất cân xứng cả trong mối quan hệ dài hạn và cơ chế sai số hiệu chỉnh ngắn hạn. Thông qua quá trình phân rã tổng từng phần, một biến cơ bản có thể được tách thành cả hai thành phần dương và âm để phân tích tính không đối xứng động và phi tuyến.
Sử dụng mô hình NARDL, các nghiên cứu gần đây đã tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng tỷ giá bất đối xứng lên giá chứng khoán (xem Bahmani–Oskooee và Saha, 2015, 2016; Cuetas và Tang, 2017; Cheah và cộng sự, 2017; Bahmani–Oskooee và Saha, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo hiểu biết của tác giả, các nghiên cứu cùng chủ đề tại Việt Nam như Huỳnh Thế Nguyễn và Nguyễn Quyết (2013), Lê Hoàng Phong và Đặng Thị Bạch Vân (2015) chưa đề cập đến mối quan hệ động phi tuyến tiềm ẩn giữa tỷ giá và giá chứng khoán. Điều đó làm các kết quả nghiên cứu chưa xác nhận (khẳng định) sự tồn tại mối quan hệ dài hạn chặt chẽ giữa các biến số. Xuất phát từ các thiếu sót trên, nghiên cứu này tiến hành đánh giá mối quan hệ bất đối xứng (phi tuyến) có thể hiện diện trong mối quan hệ giữa tỷ giá và giá chứng khoán tại thị trường Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu Trong nghiên cứu này, tác giả tham gia vào dòng nghiên cứu về mối liên kết dài hạn giữa tỷ giá và giá chứng khoán, và kiểm chứng sự hiện diện của hiệu ứng bất đối xứng trong tác động của thay đổi tỷ giá đối lên giá chứng khoán tại Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu kiểm tra cả động năng đối xứng và bất đối xứng ngắn hạn lẫn dài hạn trong mối quan hệ giữa cả hai biến. Để thực hiện được mục tiêu trên, nghiên cứu sử dụng mô hình NARDL của Shin và cộng sự (2014), cho dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn 2001M01–2018M05, gồm biến giá chứng khoán, tỷ giá, mức giá (lạm phát) và cung tiền. Câu hỏi nghiên cứu – Mối quan hệ dài hạn bất đối xứng (phi tuyến) giữa giá chứng khoán và tỷ giá tại có tồn tại ở thị trường Việt Nam hay không? – Thay đổi tăng và giảm của tỷ giá tác động đối xứng hay bất đối xứng lên giá chứng khoán tại Việt Nam? – Vai trò của các biến xác định còn lại (cung tiền và lạm phát) đối với thị trường chứng khoán Việt Nam là gì? 1.
Bố cục luận văn Nội dung còn lại của nghiên cứu bao gồm: Phần 2 cung cấp các lý thuyết về mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ giá, cùng các nghiên cứu thực nghiệm gần đây. Phần 3 mô tả phương pháp và dữ liệu nghiên cứu. Phần 4 trình bày các kết quả thực nghiệm và cuối cùng, Phần 5 cung cấp các kết luận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Ý nghĩa luận văn Luận văn bổ sung các hiểu biết mới về mối liên kết giữa thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối, hỗ trợ cho các chủ thể tham gia thị trường tại Việt Nam. Vì việc bỏ qua mối liên kết tiềm ẩn giữa hai thị trường có thể dẫn đến các sai lầm trong việc xây dựng danh mục, dự báo và phòng ngừa rủi ro. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp ích cho giới hoạch định tài chính, vì các chính sách tỷ giá không phù hợp có thể ảnh hưởng xấu lên thị trường chứng khoán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Lý thuyết nền tảng về mối quan hệ giữa tỷ giá và giá chứng khoán Về mặt lý thuyết, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán có thể được giải thích bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Giả thuyết thị trường hàng hóa (còn được gọi là phương pháp truyền thống) của Dornbusch và Fischer (1980) đưa ra mô hình định hướng dòng chảy cho thấy sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các công ty đa quốc gia và do đó, ảnh hưởng thu nhập và giá cổ phiếu của các công ty này. Đối với các công ty xuất khẩu, sự mất giá (định giá thấp) của đồng nội tệ làm cho hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn và có thể dẫn đến sự gia tăng cầu và doanh thu từ nước ngoài. Ngược lại, sự tăng giá (định giá cao) của đồng nội tệ làm cho lợi nhuận của công ty giảm xuống và giá cổ phiếu cũng giảm theo do sự suy giảm cầu nước ngoài đối với hàng hóa xuất khẩu.
Ngược lại với các công ty xuất khẩu, các công ty nhập khẩu sẽ ở thế bất lợi khi đồng nội tệ mất giá. Do đó, độ nhạy cảm giá trị của các công ty nhập khẩu đối với thay đổi tỷ giá là theo hướng ngược lại (so với các công ty xuất khẩu); do đó, sự định giá cao (hoặc định giá thấp) của đồng nội tệ dẫn đến sự gia tăng (hoặc suy giảm) giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, theo mô hình định giá của Gordon, do giá trị của tài sản tài chính được xác định bởi giá trị hiện tại của dòng tiền trong tương lai, nên kỳ vọng giá trị tiền tệ tương đối (expectation of relative currency value) đóng vai trò đáng kể trong biến động giá, do đó, thay đổi giá cổ phiếu có thể chịu ảnh hưởng bởi động năng tỷ giá hối đoái (exchange rate dynamics). Ngoài ra, Branson (1983) và Frankel (1983) trình bày mô hình định hướng chứng khoán (còn được gọi là lý thuyết cân bằng danh mục đầu tư), xem xét mối quan hệ nhân quả xuất phát từ thị trường chứng khoán đến thị trường ngoại hối.
Các tác giả cho rằng những thay đổi trong thị trường chứng khoán quyết định sự giàu có của các nhà đầu tư đối với cung và cầu tiền tệ. Do đó, thị trường chứng khoán tăng sẽ thu hút dòng vốn dẫn đến tăng cầu và do đó làm tăng giá đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nội tệ. Ngược lại, giảm giá chứng khoán làm giảm tính thanh khoản thị trường, từ đó làm giảm cầu tiền với kéo theo lãi suất thấp hơn.