ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, các loại phƣơng tiện giao thông công cộng đa phần đều có sẵn lộ trình, lịch trình nhƣ metrol, tàu lửa, tàu điện, tàu tốc hành. Trong số đó, xe buýt là phƣơng tiện giao thông công cộng đƣợc sử dụng rất phổ biến trong các thành phố ở nƣớc ta và một số nƣớc khác. Ở nƣớc ta, ngƣời dân sử dụng xe buýt để di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác với nhiều mục đích khác nhau. Đó có thể là học sinh, sinh viên đi xe buýt đến trƣờng; công chức, viên chức đến cơ quan làm việc; công nhân đến nhà máy lao động hay ngƣời dân đi chơi, đi tham quan thành phố.
Xe buýt vừa là phƣơng tiện phổ biến, tiện lợi vừa là phƣơng tiện an toàn, hiện đại mà chi phí lại rất phổ thông nên xe buýt đƣợc xem là phƣơng tiện công cộng đáp ứng đƣợc nhu cầu di chuyển và phù hợp với mọi ngƣời dân (Hình 1.1: Xe buýt 1 Trung bình ở các thành phố lớn có hàng trăm tuyến xe buýt chạy mỗi ngày nên ngƣời dùng xe buýt sẽ gặp khó khăn trong việc làm thế nào để đón đúng xe buýt của tuyến và chờ đúng trạm dừng mà xe buýt của tuyến sẽ đi qua. Vì vậy, bản đồ xe buýt sẽ là chìa khóa giúp ngƣời dùng xe buýt dễ dàng hơn trong hành trình di chuyển bằng xe buýt của mình. Bản đồ xe buýt của một thành phố hết sức cần thiết đối với ngƣời dùng xe buýt nhƣ học sinh, sinh viên, cán bộ công chức viên chức, công nhân, ngƣời đi đƣờng, ngƣời đi tham quan thành phố. Nói chung, bản đồ xe buýt không chỉ cần thiết đối với ngƣời dân mà còn rất hữu ích đối với cả khách du lịch.
Ngƣời dùng xe buýt sử dụng bản đồ xe buýt để tìm kiếm chuyến đi theo nhu cầu cá nhân của họ. Nhìn vào bản đồ xe buýt, ngƣời dùng có thể lựa chọn tuyến xe buýt và xác định đƣợc vị trí các trạm đón, trả hành khách phù hợp với mình nhất (Hình 1.2: Sơ đồ các tuyến xe buýt tỉnh Bình Dương (nguồn: https://vi.org/wiki/Danh_sách_tuyến_xe_buýt_Bình_Dương) 2 Hầu hết, bản đồ xe buýt hiện hành đƣợc tạo từ bản đồ du lịch hoặc bản đồ đƣờng bộ bằng cách vẽ thêm các quỹ đạo xe buýt, các trạm dừng và các ga xe buýt của các tuyến xe buýt. Trên bản đồ, nhiều quỹ đạo xe buýt đƣợc vẽ dày đặc dọc theo nhiều đoạn đƣờng. Điều này làm cho ngƣời dùng gặp khó khăn khi sử dụng vì tính trực quan của bản đồ không cao trong việc chọn tuyến và kết hợp giữa các tuyến với nhau [6].
Ngoài ra, bản đồ xe buýt hiện nay vẫn chƣa đáp ứng đƣợc cho hành khách trong việc lên lịch trình cho một chuyến đi vì bản đồ không cung cấp thông tin về thời gian. Nhìn vào bản đồ này, hành khách chỉ biết đƣợc thông tin về không gian địa lý nhƣ vị trí ga khởi hành, vị trí các trạm dừng và vị trí ga đến của xe buýt. Bản đồ này gây khó khăn cho hành khách trong việc lựa chọn chuyến xe buýt phù hợp do thiếu thông tin về thời gian xe khởi hành, thời gian xe ghé các trạm dừng hay thời gian xe đến ga đến. Để phục vụ hành khách đi xe buýt, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng đã phát triển nhiều trang web biểu diễn các tuyến xe buýt trên bản đồ không gian để chỉ thị các trạm, quỹ đạo tuyến của các tuyến xe buýt, nhƣ: http://xe-buyt.com/ban-do-xe-buyt, http://thuthuat123.com/ban-do-cac-tuyen-xe- buyt-tp-ho-chi-minh-moi-nhat/ hoặc những áp dụng tìm đƣờng đi bằng xe buýt trên điện thoại nhƣ: https://fptshop.vn/tin-tuc/thu-thuat/huong-dan-tim- tuyen-xe-buyt-cuc-don-gian-bang-google-maps-66256 v.v… Tất cả những trang web cung cấp thông tin về mạng xe buýt có điểm chung là sử dụng bản đồ không gian 2D chỉ thị vị trí mặt đất, không chỉ thị thời gian trên bản đồ.
Thời gian của các chuyến xe buýt trong một tuyến đƣợc chỉ thị nhƣ một bảng dữ liệu trình bày thời điểm đi từ trạm cuối này và thời điểm đến một trạm cuối khác. Một số trang web có công cụ cung cấp thông tin về lộ trình đi xe buýt từ một trạm này đến một trạm khác. Cho đến nay, chƣa tìm thấy trang web nào áp dụng khối không gian – thời gian để biểu diễn mạng xe buýt nhƣ một bản đồ không gian – thời gian. Kể từ khi đƣợc đề xuất bởi Hagerstrand 1970 [1, 2], khối không gian – thời gian (space-time cube) đƣợc nhiều tác giả sử dụng nhƣ mô hình biểu diễn dữ liệu của các đối tƣợng di chuyển (dữ liệu di chuyển) [3, 4].
Đặc trƣng của khối 3 không gian – thời gian là biểu diễn quan hệ giữa vị trí không gian và vị trí thời gian của đối tƣợng di chuyển. Nói cách khác, mỗi đối tƣợng trong khối không gian – thời gian đƣợc chỉ định bởi vị trí không gian và thời gian tƣơng ứng. Trong đó, mỗi đối tƣợng sử dụng một khoảng thời gian để di chuyển từ vị trí này đến vị trí khác. Đối với xã hội, xe buýt là phƣơng tiện giao thông công cộng.
Về phƣơng diện kỹ thuật, xe buýt là một đối tƣợng di chuyển có thể đƣợc biểu diễn trong khối không gian – thời gian. Đối với một thành phố có nhiều tuyến xe buýt khác nhau, quỹ đạo không gian và quỹ đạo không gian – thời gian của các tuyến xe buýt biểu diễn trong khối không gian – thời gian nhƣ một bản đồ không gian – thời gian của mạng xe buýt. Bản đồ không gian – thời gian của mạng xe buýt giúp ngƣời dùng xe buýt có thể tự thiết kế cho mình một lộ trình đi thích hợp khi biết địa điểm đến, thời gian đến và địa điểm đi [5]. Khi sử dụng một bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt của một thành phố có nhiều tuyến xe buýt khác nhau, ngƣời dùng khó phân biệt đƣợc các hợp phần của tuyến này với tuyến khác, cũng nhƣ khó phối hợp đƣợc các hợp phần của cùng một tuyến.
Hiện tƣợng này là do độ dày đặc màn hình và tính chọn lọc cũng nhƣ tính phối hợp của bản đồ biểu diễn trực quan mạng xe buýt không cao. Về phƣơng diện kỹ thuật, tính trực quan của bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt có thể đƣợc cải thiện bằng cách tích hợp biến thị giác vào bản đồ một cách thích hợp [6].2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Mục tiêu chính của đề tài “Trực quan hóa bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt” là nâng cao tính trực quan của bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt bằng cách tích hợp biến thị giác vào bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt.3 ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG - Bản đồ không gian – thời gian mạng xe buýt; - Khả năng cảm nhận bằng thị giác của con ngƣời.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Bản đồ không gian - thời gian mô phỏng 1 tuyến xe buýt; - Bản đồ không gian - thời gian mô phỏng 2 tuyến xe buýt; - Bản đồ không gian - thời gian mô phỏng 3 tuyến xe buýt.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Phương pháp hình học: Phƣơng pháp hình học đƣợc dùng để biểu diễn các hợp phần của bản đồ mạng xe buýt; - Phương pháp đại số: Phƣơng pháp đại số đƣợc dùng để tích hợp biến thị giác với bản đồ mạng xe buýt; - Phương pháp tra cứu tài liệu: Phƣơng pháp tra cứu tài liệu đƣợc dùng để nghiên cứu khả năng cảm nhận bằng thị giác của con ngƣời; - Phương pháp phân tích: Phƣơng pháp phân tích đƣợc dùng để phân lớp các hợp phần của bản đồ mạng xe buýt; - Phương pháp tổng hợp: Phƣơng pháp tổng hợp đƣợc áp dụng để kết hợp các hợp phần của một tuyến xe buýt và của toàn mạng xe buýt. 5 Chương 2 TỔNG QUAN VỀ TRỰC QUAN HÓA DỮ LIỆU 2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 2.1 Dữ liệu Dữ liệu là những giá trị của các biến định tính hay định lƣợng. Dữ liệu đƣợc đo đạc, thu thập, báo cáo và phân tích để làm quyết định.
Ví dụ: anh A mời anh B chiều nay đi uống cà phê. Anh A phải cung cấp đầy đủ thông tin nhƣ uống ở đâu, vào thời điểm nào, quán đó có rộng rãi sạch sẽ không. Nếu có đầy đủ thông tin thì anh B mới đƣa ra quyết định là có đồng ý đi hay là không. Dữ liệu có 2 tính chất là tính đầy đủ và tính chắc chắn.
Tính đầy đủ của dữ liệu là phải đầy đủ, không đƣợc thiếu. Ví dụ: chúng ta muốn lấy dữ liệu về thời tiết thì phải lấy dữ liệu cả ngày và đêm. Tính chắc chắn của dữ liệu là dữ liệu phải đƣợc đối sánh với thực tế, phải là dữ liệu có thật, nếu sử dụng dữ liệu không có thật sẽ rất khó chính xác.2 Không gian Không gian là một phạm trù triết học chỉ hình thức tồn tại của vật thể ở vị trí nhất định, kích thƣớc nhất định và ở một khung cảnh nhất định trong mối quan hệ với những vật thể khác. Không gian luôn gắn liền với thời gian và vật thể.
Không gian có tính khách quan, tính vĩnh cửu vô tận, tính thứ tự (Đông – Tây – Nam – Bắc) và không gian luôn có 3 chiều. Điểm (Points) là một tọa độ trong không gian không có kích thƣớc. Các điểm trong không gian không bao giờ liên tục mà luôn có khoảng cách. Trong trực quan hóa, điểm có thể đƣợc biểu diễn bằng các dấu hiệu trực quan khác nhau nhƣ dấu chấm, hình tròn, hình vuông, hình tam giác.
với kích thƣớc phù hợp (Hình 2. 6 Đƣờng (Lines) là một dạng trên mặt phẳng có chiều dài có thể đo đƣợc nhƣng không có chiều rộng. Trong trực quan hóa, đƣờng đƣợc biểu diễn bởi các dạng đƣờng khác nhau nhƣ đƣờng thẳng, đƣờng cong, đƣờng gấp khúc. Đƣờng có thể đƣợc dùng để biểu diễn đƣờng giao thông, đƣờng dây điện, đƣờng ranh giới.
Vùng (Areas) là phần mặt phẳng đƣợc giới hạn bởi đƣờng cong khép kín. Trong trực quan hóa, các vùng khác nhau đƣợc biểu diễn bởi các dấu hiệu trực quan khác nhau. Vùng có thể đƣợc dùng để biểu diễn các khu vực địa lý có diện tích nhƣ tỉnh, quốc gia, vùng nông thôn, vùng hành chính. Points Lines Areas Hình 2.3: Các ký hiệu trong không gian 2.3 Thời gian Thời gian là một khái niệm trực giác, mọi ngƣời đều nhận biết thời gian nhƣng không thể thấy, không thể sờ đƣợc.
Thời gian thay đổi liên tục và tự nhiên. Các đơn vị đo thời gian đƣợc các hệ thống lịch tính theo sự chuyển động của mặt trời, hoặc mặt trăng, hoặc cả mặt trời và mặt trăng. Thời gian đƣợc cảm nhận thông qua các đơn vị đo thời gian nhƣ năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây,.4 Đối tượng, đối tượng di chuyển Đối tƣợng là các thực thể rời rạc có đƣờng biên giới.