CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN, PHÒNG NGỪA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Tội phạm là hành vi gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nhất định cho một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Những quan hệ xã hội được luật hình sự Việt Nam bảo vệ là những quan hệ xã hội được xác định trong BLHS như quyền nhân thân, quyền sở hữu.
Về nhóm các tội phạm xâm phạm đến quan hệ sở hữu. BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) không đưa ra khái niệm hay điều luật cụ thể thế nào là các tội xâm phạm sở hữu. Khái niệm này chỉ có thể hiện trong một số tài liệu, giáo trình của một số trường luật và của các tài liệu khoa học. Theo một số nhà nghiên cứu có thể hiểu “các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi do người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và công dân”.
Thông qua quan hệ sở hữu xác lập ba quyền năng: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Hành vi gây thiệt hại, đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu đó là những hành vi xâm phạm đến các quyền năng: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản. Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu do vậy khái niệm của nó phải thỏa mãn các đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu đồng thời phải mang trong mình những đặc điểm riêng có, khác biệt để phân biệt với các tội phạm khác thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu. Tại Điều 174 BLHS năm 2015 quy định Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 6 như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 2.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…” Trên cơ sở các nội dung, khái niệm, cách hiều thì có thể tổng hợp khái niệm tội LĐCĐTS như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện bằng thủ đoạn gian dối xâm phạm vào quan hệ sở hữu tài sản của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khách thể của tội phạm Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ và bị hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại trong chừng mực nhất định. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản có thể được hiểu dưới các dạng cụ thể sau: vật (vàng, trang sức, xe ôtô…), tiền, giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu…) và quyền tài sản (bất động sản, …). Tội LĐCĐTS trực tiếp xâm hại đến quan hệ sở hữu đối với tài sản.
Đối tượng tác động của nó là tài sản của người khác có thể là cá nhân, của tổ chức cũng như của nhà nước. Những quan hệ sở hữu đối với tài sản này đều được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Tuy nhiên, quan hệ sở hữu tài sản này phải là quan hệ hợp pháp. Một số có quan hệ sở hữu không hợp pháp thì không được nhà nước bảo vệ nên nó không là khách thể trong tội phạm này.
Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm mà con người có thể nhận thấy được. Mặt khách quan của tội phạm gồm hành vi khách quan của tội phạm; hậu quả; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện, hoàn cảnh… thực hiện tội phạm. 7 - Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt.
Hai hành vi này có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lừa dối là hành vi có ý nghĩa là để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. + Hành vi gian dối là việc đưa ra những thông tin không đúng với sự thật bằng các hình thức thủ đoạn khác nhau (đưa ra các thông tin giả như bằng lời nói, các giấy tờ giả mạo, giả danh.) làm cho người chủ tài sản tin đó là sự thật, sau đó người chủ tài sản tự nguyện giao tài sản của mình cho người có hành vi gian dối. Như vậy hành vi gian dối có trước, sau đó mới nhận và chiếm đoạt được tài sản của nạn nhân giao cho.
+ Thông thường tội LĐCĐTS thực hiện hai hành vi gian dối và chiếm đoạt tài sản kế tiếp nhau, nhưng cũng có trường hợp hai hành vi được thực hiện đan xen hoặc lại có khoảng cách về mặt thời gian. Tuy nhiên, trong trường hợp này tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành từ lúc chiếm đoạt được tài sản. Chiếm đoạt được tài sản được xem là chuyển dịch tài sản của người khác một cách bất hợp pháp thành tài sản của mình. Hoăc có thể xem là hành vi tước đoạt quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) của người khác thành của mình.
- Về hậu quả BLHS quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2 triệu đồng trở lên. Nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng phải thuộc một trong các trường hợp sau đây thì mới bị coi là tội phạm. + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm. + Đã bị kết án về các tội xâm phạm sở hữu hoặc tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ. Việc định tội LĐCĐTS ngoài việc xác định hậu quả còn đòi hỏi phải làm 8 rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, hành vi gian dối là nguyên nhân chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt của người phạm tội. - Thời gian, địa điểm, phương pháp, phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh… thực hiện tội phạm.
Các dấu hiệu này nói chung không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội LĐCĐTS nhưng chúng có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm Tội LĐCĐTS được thực hiện dưới lỗi cố ý trực tiếp. Đối với tội phạm này người phạm tội luôn luôn nảy sinh ý định từ trước (ý định chiếm đoạt tài sản) khi thực hiện hành vi gian dối và mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Xem xét yếu tố lỗi cố ý trực tiếp và ý định chiếm đoạt trước hay sau khi thực hiện hành vi có ý nghĩa trong việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác.
Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định đúng loại tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội từ đó xác định đúng nguyên nhân, điều kiện phòng ngừa có hiệu quả. Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà theo quy định của luật hình sự thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Chủ thể của tội LĐCĐTS theo quy định tại các Điều 174, BLHS năm 2015 được xác định như sau: Người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi nếu thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 174 BLHS. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình một cách đúng đắn theo những yêu cầu, chuẩn mực của xã hội, của pháp luật.
Khái niệm, đặc điểm của tình hình, nguyên nhân và điều kiện, phòng ngừa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm, đặc điểm và các yếu tố của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm Tội phạm học là một ngành khoa học pháp lý – xã hội nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, các hình thức biểu hiện và các loại tình hình tội phạm, các quy luật xuất hiện, tồn tại và thay đổi của tình hình tội phạm; các nguyên nhân, điều kiện và cơ chế tác động của các nguyên nhân và điều kiện đó đến tình hình tội phạm; nhân thân người phạm tội; các biện pháp phòng ngừa và khắc phục tình hình tội phạm xảy ra trong xã hội và những vấn đề khác có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội phạm [49,tr 5]. Như vậy để làm rõ nội dung của luận văn thì ngoài yêu cầu nhận diện được tội LĐCĐTS thì ta cần phải nhận thức được, giải thích thế nào về tình hình tội LĐCĐTS; nguyên nhân và điều kiện của tội LĐCĐTS; phòng ngừa tội LĐCĐTS? Tình hình tội phạm là một khái niệm cơ bản của tội phạm học, có ý nghĩa nhận thức phương pháp luận, lý luận và thực tiễn quan trọng.
Hiện nay các nhà lý luận còn có những quan điểm khác nhau về THTP. Có quan điểm cho rằng. THTP là hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự có sự thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp, gồm tổng thể thống nhất hữu cơ các tội phạm đã xảy ra và những người đã thực hiện chúng trên phạm vi địa bàn (lãnh thổ) nhất định trong khoảng thời gia nhất định. [30, tr 01] Trong cuốn “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” GS.TS Nguyễn Xuân Yêm lại đưa ra định nghĩa như sau: “THTP là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định” [53].