Tổ Chức và Hoạt Động Của Kiểm Lâm Theo Pháp Luật Việt Nam Tại Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích tổ chức và hoạt động của kiểm lâm theo pháp luật Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam, từ thực tiễn đến giải pháp.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiểm Lâm Quảng Nam Vai Trò và Thực Tiễn

Rừng là tài nguyên vô giá, đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng (QLBV&PTR) được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, xác định là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị. Lực lượng Kiểm lâm đóng vai trò chuyên trách, nòng cốt trong nhiệm vụ này. Tuy nhiên, sau 46 năm xây dựng và phát triển, tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm vẫn còn nhiều bất cập, đòi hỏi sự kiện toàn và củng cố để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nghiên cứu về tổ chức kiểm lâm và hoạt động của Kiểm lâm Quảng Nam có ý nghĩa thiết thực trong việc đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả QLBV&PTR tại địa phương.

1.1. Lịch Sử Hình Thành và Phát Triển của Kiểm Lâm Việt Nam

Lực lượng Kiểm lâm được thành lập từ năm 1973 theo Nghị định 101/CP. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm có nhiều thay đổi, từ hệ thống thống nhất từ Trung ương đến cấp huyện (1973-1979) đến giai đoạn phân cấp quản lý (1979-1994). Giai đoạn từ 2006 đến nay, Kiểm lâm được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến cấp huyện theo Nghị định 119/2006/NĐ-CP, với nhiều kết quả tích cực trong QLBV&PTR. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế về cơ cấu tổ chức, sự thống nhất trong chỉ đạo điều hành và thẩm quyền thực thi pháp luật.

1.2. Vai Trò và Vị Trí của Kiểm Lâm Quảng Nam Trong Hệ Thống

Tại Quảng Nam, Chi cục Kiểm lâm được thành lập năm 1997 và trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT từ năm 2007. Năm 2016, Chi cục Kiểm lâm được thành lập trên cơ sở sáp nhập Chi cục Kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp. Tổ chức và hoạt động của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam được duy trì đến nay theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND và Quyết định số 3488/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Nam. Chi cục có 01 Chi cục trưởng, 03 Phó Chi cục trưởng, 05 phòng chuyên môn nghiệp vụ và 28 đơn vị trực thuộc, cùng 27 Trạm Kiểm lâm.

1.3. Tính Cấp Thiết của Nghiên Cứu về Kiểm Lâm Quảng Nam

Việc cơ cấu, kiện toàn để thống nhất về tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm là một trong những yêu cầu cấp bách để thực hiện nhiệm vụ QLBV&PTR trong thời kỳ mới. Nghiên cứu, tìm hiểu về tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm từ thực tiễn của tỉnh Quảng Nam có ý nghĩa thiết thực trong đánh giá những mặt đã đạt được cũng như những bất hợp lý, chưa thống nhất về tổ chức và hoạt động, chỉ ra nguyên nhân của sự hạn chế làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác QLBV&PTR, qua đó đề xuất các giải pháp thay đổi, kiện toàn phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLBV&PTR tại tỉnh Quảng Nam.

II. Thách Thức và Vấn Đề Của Kiểm Lâm Quảng Nam Hiện Nay

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, Kiểm lâm Quảng Nam vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức. Tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng vẫn diễn biến phức tạp. Cơ cấu tổ chức chưa thực sự phù hợp, sự phối hợp giữa các lực lượng còn hạn chế. Nguồn lực đầu tư cho công tác kiểm lâm còn thiếu. Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ rừng chưa cao. Biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng gây ảnh hưởng lớn đến rừng. Tất cả những yếu tố này đòi hỏi Kiểm lâm Quảng Nam phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

2.1. Tình Hình Vi Phạm Luật Lâm Nghiệp Tại Quảng Nam

Tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp vẫn diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến diện tích và chất lượng rừng. Các hành vi vi phạm phổ biến bao gồm khai thác gỗ trái phép, phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép. Nguyên nhân chủ yếu là do lợi nhuận từ khai thác gỗ cao, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế, lực lượng Kiểm lâm còn mỏng, địa bàn quản lý rộng.

2.2. Khó Khăn Trong Công Tác Phòng Cháy Chữa Cháy Rừng

Quảng Nam là tỉnh có nguy cơ cháy rừng cao, đặc biệt vào mùa khô. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) gặp nhiều khó khăn do thời tiết khô hạn kéo dài, địa hình phức tạp, phương tiện chữa cháy còn thiếu, lực lượng PCCCR còn mỏng. Ý thức của người dân về PCCCR chưa cao, còn tình trạng đốt nương rẫy gây cháy lan vào rừng.

2.3. Hạn Chế Về Nguồn Lực và Cơ Sở Vật Chất Của Kiểm Lâm

Nguồn lực đầu tư cho công tác kiểm lâm còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác QLBV&PTR còn thiếu và lạc hậu. Chế độ chính sách cho kiểm lâm viên còn chưa đủ sức hấp dẫn, ảnh hưởng đến tinh thần làm việc và thu hút nhân lực giỏi.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kiểm Lâm Quảng Nam Đề Xuất

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm Quảng Nam, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Cần kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cho kiểm lâm viên. Tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rừng. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ rừng. Tăng cường đầu tư cho công tác kiểm lâm. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về lâm nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ rừng.

3.1. Kiện Toàn Tổ Chức và Nâng Cao Năng Lực Kiểm Lâm

Cần rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy Kiểm lâm theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho kiểm lâm viên thông qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Tăng cường công tác luân chuyển cán bộ để tạo điều kiện cho kiểm lâm viên được rèn luyện và trưởng thành.

3.2. Tăng Cường Ứng Dụng Công Nghệ Trong Quản Lý Rừng

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rừng, như sử dụng hệ thống GIS, ảnh viễn thám để theo dõi diễn biến rừng, phát hiện sớm các hành vi vi phạm. Xây dựng cơ sở dữ liệu về rừng, lâm sản để phục vụ công tác quản lý, điều hành.

3.3. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Bảo Vệ Rừng

Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò, giá trị của rừng và tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng. Vận động người dân tham gia vào công tác QLBV&PTR, xây dựng các mô hình quản lý rừng cộng đồng hiệu quả.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Kiểm Lâm

Việc triển khai các giải pháp cần gắn liền với thực tiễn địa phương và có sự đánh giá hiệu quả thường xuyên. Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể, khách quan để đo lường hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm. Kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung các giải pháp cho phù hợp. Cần có sự tham gia của cộng đồng và các chuyên gia trong quá trình đánh giá.

4.1. Xây Dựng Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Kiểm Lâm

Cần xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể, khách quan để đo lường hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm, như số vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp được phát hiện và xử lý, diện tích rừng bị mất, số vụ cháy rừng, mức độ tham gia của cộng đồng vào công tác QLBV&PTR.

4.2. Đánh Giá Tác Động Của Các Chính Sách Kiểm Lâm

Cần đánh giá tác động của các chính sách kiểm lâm đến công tác QLBV&PTR, đời sống của người dân sống gần rừng. Kết quả đánh giá là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung các chính sách cho phù hợp.

4.3. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Quản Lý Rừng Hiệu Quả

Cần tổ chức các hội thảo, diễn đàn để chia sẻ kinh nghiệm quản lý rừng hiệu quả giữa các địa phương, các đơn vị Kiểm lâm. Học hỏi kinh nghiệm quốc tế về QLBV&PTR.

V. Chính Sách Kiểm Lâm Quảng Nam Hoàn Thiện và Phát Triển

Để Kiểm lâm Quảng Nam hoạt động hiệu quả, cần có một hệ thống chính sách đồng bộ và phù hợp. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp. Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng. Đảm bảo chế độ chính sách cho kiểm lâm viên. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lâm nghiệp.

5.1. Rà Soát và Hoàn Thiện Hệ Thống Pháp Luật Về Lâm Nghiệp

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về lâm nghiệp cho phù hợp với tình hình thực tế. Xây dựng các quy định cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong công tác QLBV&PTR.

5.2. Xây Dựng Cơ Chế Khuyến Khích Bảo Vệ Rừng

Cần xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng, như giao rừng cho cộng đồng quản lý, chi trả dịch vụ môi trường rừng, hỗ trợ phát triển sinh kế cho người dân sống gần rừng.

5.3. Đảm Bảo Chế Độ Chính Sách Cho Kiểm Lâm Viên

Cần đảm bảo chế độ chính sách cho kiểm lâm viên, như nâng cao tiền lương, phụ cấp, trang bị phương tiện làm việc, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp. Tạo điều kiện cho kiểm lâm viên được học tập, nâng cao trình độ.

VI. Tương Lai Của Kiểm Lâm Quảng Nam Phát Triển Bền Vững

Với những nỗ lực không ngừng, Kiểm lâm Quảng Nam sẽ ngày càng phát triển vững mạnh, góp phần quan trọng vào công tác QLBV&PTR, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Cần tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực, tăng cường hợp tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Phát triển lâm nghiệp bền vững là mục tiêu cao nhất mà Kiểm lâm Quảng Nam hướng tới.

6.1. Phát Triển Lâm Nghiệp Bền Vững Tại Quảng Nam

Phát triển lâm nghiệp bền vững là mục tiêu cao nhất mà Kiểm lâm Quảng Nam hướng tới. Cần kết hợp hài hòa giữa bảo vệ rừng và phát triển kinh tế, xã hội. Khai thác lâm sản phải đi đôi với tái tạo rừng. Phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo vệ rừng.

6.2. Vai Trò Của Kiểm Lâm Trong Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu

Kiểm lâm đóng vai trò quan trọng trong ứng phó với biến đổi khí hậu, như trồng rừng phòng hộ, bảo vệ rừng ngập mặn, giảm phát thải khí nhà kính từ rừng.

6.3. Hợp Tác Quốc Tế Trong Lĩnh Vực Lâm Nghiệp

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lâm nghiệp để học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ tiên tiến, thu hút nguồn vốn đầu tư. Tham gia các tổ chức quốc tế về lâm nghiệp.

08/06/2025

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình quản lý và sử dụng đất của các tổ chức kinh tế tại huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh. Mặc dù không có tiêu đề cụ thể, nội dung chính của tài liệu tập trung vào việc đánh giá thực trạng hiện tại và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả quản lý đất đai. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về các thách thức mà các tổ chức kinh tế đang phải đối mặt, cũng như những biện pháp khả thi để tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên đất.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất của các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện Hải Hà tỉnh Quảng Ninh. Tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các giải pháp quản lý đất đai hiệu quả và những ứng dụng thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN CÔNG LÝ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM LÂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN CÔNG LÝ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM LÂM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số : 8.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH PHÚ Hà Nội, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào; mọi số liệu và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Trần Công Lý MỤC LỤC MỞ ĐẦU . NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM LÂM . Quan niệm về Kiểm lâm . Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm lâm . Tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm . Mối quan hệ giữa Kiểm lâm với các cơ quan, tổ chức . THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM LÂM TỈNH QUẢNG NAM. Những yếu tố tác động đến tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . Thực trạng tổ chức của Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . Thực trạng về hoạt động của Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . Đánh giá về thực trạng tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA LỰC LƯỢNG KIỂM LÂM QUẢNG NAM . Định hướng kiện toàn tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . Các giải pháp chung thực hiện kiện toàn tổ chức và hoạt động lực lượng Kiểm lâm . Phương án tổ chức lại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam . 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Stt Ký hiệu Nguyên nghĩa 1 BTTN Bảo tồn thiên nhiên 2 DVMTR Dịch vụ môi trường rừng 3 Nông nghiệp & PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 4 PCCCR Phòng cháy, chữa cháy rừng 5 QLBV&PTR Quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 6 QLNN Quản lý nhà nước 7 QPPL Quy phạm pháp luật 8 RPH Rừng phòng hộ 9 RĐD Rừng đặc dụng 10 RSX Rừng sản xuất 11 UBND Uỷ ban nhân dân 12 VPHC Vi phạm hành chính 13 CQHCNN Cơ quan hành chính nhà nước DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. Diện tích rừng tỉnh Quảng Nam . Thống kê số lượng cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ năm 2018 . Kết quả trồng rừng thay thế . Tính cấp thiết của đề tài Rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn các giá trị văn hóa, lịch sử, bảo đảm môi trường sống, điều hòa khí hậu và nguồn nước, góp phần chống thiên tai, bão lũ và biến đổi khí hậu… Khác với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, rừng là tài nguyên có thể tái tạo thông qua hoạt động QLBV&PTR. Do đó QLBV&PTR là nhiệm vụ cấp bách và lâu dài, mang tính chiến lược, được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhiệm vụ QLBV&PTR được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị trong đó lực lượng Kiểm lâm là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng. Kiện toàn, củng cố và xây dựng lực lượng Kiểm lâm đủ mạnh để thực thi hiệu quả công tác QLBV&PTR là giải pháp mà Ban Bí thư trung ương Đảng nêu tại Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/01/2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác QLBV&PTR. Tuy nhiên từ khi được thành lập đến nay, trải qua 46 năm xây dựng và phát triển, tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm vẫn thiếu thống nhất. Ngày 21/5/1973, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 101/CP đánh dấu sự ra đời của lực lượng Kiểm lâm. Giai đoạn từ năm 1973 - 1979, lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo Nghị định 101/CP, lực lượng Kiểm lâm nhân dân được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện, đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Tổng cục Lâm nghiệp (1973 - 7/1976) và Bộ Lâm nghiệp (7/1976 - 1979). Thời kỳ này lực lượng Kiểm lâm nhân dân được tổ chức thống nhất nên việc chỉ đạo, điều hành từ Trung ương đến cơ sở được thông suốt. Giai đoạn từ năm 1979 - 1994, lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo Nghị định 368/CP ngày 08/10/1979 của Chính phủ và Thông tư số 32/TCCB ngày 04/9/1982 của Bộ Lâm nghiệp, lực lượng Kiểm lâm được tổ chức thành hệ thống đặt 1 dưới sự chỉ đạo và quản lý của Bộ Lâm nghiệp và UBND tỉnh. Tổ chức Kiểm lâm không thống nhất, không thành hệ thống từ Trung ương đến cấp huyện. Giai đoạn từ năm 1994 - 2006, thực hiện Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, tổ chức Kiểm lâm dần được kiện toàn; trong giai đoạn này lực lượng Kiểm lâm được tổ chức theo Nghị định 39/CP ngày 18/4/1994 của Chính phủ thành hệ thống từ Trung ương tới cấp huyện; ở các tỉnh có nhiều rừng Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh, những tỉnh có ít rừng Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, Hạt Kiểm lâm ở các khu rừng đặc dụng đã được thành lập để bảo đảm việc bảo vệ rừng đặc dụng. Giai đoạn từ năm 2006 đến nay, Kiểm lâm được tổ chức theo Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ thống nhất từ Trung ương đến cấp huyện và thực hiện phân công Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã; ở Trung ương Cục Kiểm lâm trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT (từ năm 2010 đến nay trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp), ở tỉnh Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; giai đoạn này tổ chức Kiểm lâm được sắp xếp, kiện toàn theo nguyên tắc hoạt động thống nhất từ Trung ương đến địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ và đạt được những kết quả tích cực sau: - Hệ thống tổ chức Kiểm lâm đã ổn định từ trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện; trước khi thực hiện Nghị định số 119/2006/NĐ-CP mới có 60/64 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Kiểm lâm; trong đó, có 44 tỉnh Chi cục Kiểm lâm trực thuộc UBND tỉnh, có 16 tỉnh Chi cục Kiểm lâm trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT, có 4 tỉnh chưa thành lập Chi cục Kiểm lâm. Đến nay, lực lượng Kiểm lâm đã được thành lập ở tất cả 63/63 tỉnh, thành phố và trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; - Lực lượng Kiểm lâm đã có những bước chuyển biến tích cực để phù hợp với cơ chế quản lý mới; từ năm 2015 ở các địa phương hầu hết Kiểm lâm cấp tỉnh, cấp huyện tham mưu thực hiện toàn diện các nhiệm vụ về lâm nghiệp trên địa bàn, góp phần giảm đầu mối về bộ máy tổ chức trong ngành lâm nghiệp; - Kiểm lâm đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong công tác QLBV&PTR; chủ động tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành nhiều văn bản QPPL, 2 cơ chế, chính sách về công tác QLBV&PTR; tổ chức thực hiện nhiều giải pháp về QLBV&PTR, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp đã giảm so những năm trước đây, góp phần nâng độ che phủ rừng từ 37,7% (năm 2006) lên 41,45 % (năm 2017); trách nhiệm QLNN về rừng của chính quyền cơ sở và ý thức của toàn xã hội trong công tác bảo vệ rừng từng bước được nâng nên. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế sau: - Cơ cấu bộ máy Kiểm lâm từ trung ương đến địa phương chưa thống nhất, có nơi trên cùng một địa bàn nhưng tổ chức Kiểm lâm trực thuộc nhiều cơ quan quản lý khác nhau dẫn đến thiếu thống nhất trong chỉ đạo, điều hành; - Việc áp dụng Nghị định số 119/2006/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về tổ chức, nhiệm vụ của Kiểm lâm không được các địa phương thực hiện thống nhất, dẫn đến khó khăn trong thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ và chỉ đạo, điều hành chung; - Kiểm lâm có thẩm quyền điều tra, khởi tố hình sự, xử lý VPHC về lâm nghiệp; tuy nhiên, các tổ chức Kiểm lâm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ lại nằm trong đơn vị sự nghiệp là các Ban quản lý rừng, là viên chức Kiểm lâm dẫn đến khó khăn, bất cập trong các hoạt động thực thi pháp luật theo thẩm quyền. [52],[66],[67] Năm 2017, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Lâm nghiệp, Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Điểm mới của Luật Lâm nghiệp so với Luật Bảo vệ và phát triển rừng là coi lâm nghiệp là ngành kinh tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản lý bền vững. Luật Lâm nghiệp quy định Kiểm lâm là tổ chức có chức năng quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp; là lực lượng chuyên ngành về phòng cháy và chữa cháy rừng; Luật Lâm nghiệp cũng sửa đổi quy định về nhiệm vụ của Kiểm lâm do đó tổ chức của Kiểm lâm cần được cơ cấu lại cho phù hợp. [52, tr 2-3] Tại tỉnh Quảng Nam, ngày 02/01/1997 UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định 13/QĐ-UB thành lập Chi cục Kiểm lâm là đơn vị hành chính trực thuộc 3 UBND tỉnh Quảng Nam. Đến năm 2007, theo Quyết định số 1287/QĐ-UBND ngày 24/4/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam; Chi cục Kiểm lâm được chuyển về trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam thực hiện theo Quyết định số 15/2007/QĐ-UBND ngày 19/6/2007 của UBND tỉnh Quảng Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ