Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, chất lượng của đội ngũ cán bộ tư pháp giữ vai trò then chốt đối với sự nghiêm minh của pháp luật và niềm tin của nhân dân. Trải qua chặng đường 20 năm phát triển (giai đoạn 1998 – 2018), Học viện Tư pháp đã đào tạo và công nhận tốt nghiệp cho 51.049 học viên thuộc các khối ngành tư pháp và bổ trợ tư pháp. Tuy nhiên, trước yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW và Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đào tạo nghề tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức về thể chế, mô hình tổ chức và chuẩn hóa chất lượng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính của tác giả Chu Thành Công tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp từ thực tiễn hoạt động của Học viện Tư pháp. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề luật; phân tích thực trạng tổ chức, triển khai 11 chương trình đào tạo chuyên ngành; chỉ ra những vướng mắc về phân công quyền lực giữa các ngành Tòa án, Kiểm sát và Tư pháp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hoạt động quản trị đào tạo tại trụ sở chính Hà Nội và cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian 1998 – 2018, định hướng tầm nhìn đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp căn cứ khoa học giúp tối ưu hóa hiệu suất làm việc của 147 cán bộ, giảng viên cơ hữu và mạng lưới khoảng 600 giảng viên thỉnh giảng, hướng tới mục tiêu hiện đại hóa nền tư pháp quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là luận điểm xem quản lý như một chức năng xã hội đặc biệt nảy sinh từ quá trình phân công lao động xã hội. Đồng thời, tác giả vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp "phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư".

Khung lý thuyết của luận văn tích hợp lý thuyết quản lý hành chính nhà nước hiện đại và lý thuyết quản trị chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Mô hình nghiên cứu vận hành theo chu trình quản lý khép kín gồm 4 trụ cột cơ bản:

  1. Ban hành và tổ chức thực thi văn bản quy phạm pháp luật;
  2. Hoàn thiện bộ máy tổ chức và phát triển đội ngũ nhân lực quản lý;
  3. Quản trị chương trình đào tạo và kiểm soát giáo trình, học liệu;
  4. Kiểm định chất lượng đầu ra gắn liền với tiêu chuẩn chức danh công chức.

Các khái niệm nòng cốt được làm rõ bao gồm: "Quản lý nhà nước", "Chức danh tư pháp" (người thực thi quyền lực tư pháp hoặc bổ trợ tư pháp được bổ nhiệm theo luật định), "Đào tạo chức danh tư pháp" (quá trình trang bị kỹ năng thực hành nghề chuyên biệt sau trình độ cử nhân luật), và "Chuẩn chức danh nghề nghiệp".

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản pháp lý quốc gia (Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg, Quyết định số 2083/QĐ-TTg, Quyết định số 2229/QĐ-BTP) kết hợp báo cáo thống kê 20 năm thành lập Học viện Tư pháp (1998 – 2018) và 5 đề tài khoa học cấp bộ chuyên sâu của Bộ Tư pháp giai đoạn 2004 – 2009.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu thực hiện khảo sát toàn diện toàn bộ 11 chương trình đào tạo nghiệp vụ, rà soát hồ sơ đào tạo của 51.049 học viên đã tốt nghiệp, đồng thời đánh giá kho học liệu gồm hơn 1.500 bộ hồ sơ tình huống thực tế. Mẫu phân tích nhân sự bao gồm 100% đội ngũ 147 cán bộ công chức cơ hữu và chọn mẫu chuyên gia có chủ đích đối với hơn 600 giảng viên thỉnh giảng là các thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư tiêu biểu.

Phương pháp phân tích bao gồm: phân tích - tổng hợp tài liệu pháp lý, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu mô hình đào tạo tư pháp của Việt Nam với các nước như Đức, Pháp, Nhật Bản), phương pháp lịch sử - logic và phương pháp thống kê mô tả. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này nhằm bảo đảm tính khách quan, tái hiện chính xác bước chuyển biến chính sách qua các giai đoạn cải cách tư pháp và lượng hóa rõ nét hiệu quả đào tạo thực tiễn. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận văn được tiến hành đồng bộ trong năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổ chức bộ máy và đội ngũ giảng lực có sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô nhưng đang chịu áp lực chuyển dịch cơ cấu. Năm 1998, trường chỉ có 16 cán bộ, giảng viên (với 5 giảng viên); đến năm 2018, quy mô nhân sự đạt 147 người (trong đó có 57 giảng viên cơ hữu và 90 cán bộ), tăng trưởng gấp 9,1 lần. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu tăng từ 31,2% lên 38,7% trên tổng số nhân sự, kết hợp cùng mạng lưới khoảng 600 giảng viên thỉnh giảng giàu kinh nghiệm thực tiễn tại các cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ hai, chuẩn hóa thành công 11 chương trình đào tạo nghề tư pháp và đổi mới vượt bậc về giáo trình, phương pháp giảng dạy. Thời gian đào tạo được kéo dài nhằm nâng cao chất lượng thực hành: nghề luật sư tăng từ 6 tháng lên 12 tháng (từ năm 2013), nghề công chứng tăng từ 6 tháng lên 12 tháng (từ năm 2016), nghề đấu giá tăng từ 3 tháng lên 6 tháng (từ năm 2017). Học viện đã xây dựng và chuẩn hóa hơn 1.500 bộ hồ sơ tình huống án thực tế, triển khai thành công phương pháp giảng dạy tích cực dựa trên tình huống diễn án và mô hình đồng giảng.

Thứ ba, quy mô đào tạo nguồn nhân lực tư pháp đạt thành tựu to lớn nhưng có sự phân hóa theo từng nhóm chức danh. Tổng số 51.049 học viên đã được đào tạo trong 20 năm, nổi bật với hơn 5.000 học viên nghiệp vụ xét xử qua 15 khóa đào tạo và hơn 1.000 học viên nghiệp vụ kiểm sát qua 7 khóa đào tạo. Đặc biệt, theo Quyết định số 2543/QĐ-BTP ngày 08/12/2016, Học viện đã tiên phong triển khai chương trình đào tạo chung nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư với khóa đầu tiên quy mô 32 học viên.

Thứ tư, xuất hiện điểm nghẽn nghiêm trọng về tính thống nhất trong quản lý nhà nước khi đầu mối đào tạo bị chia cắt. Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đã tạm ngừng cử cán bộ đào tạo từ năm 2008, và Tòa án nhân dân Tối cao dừng gửi nguồn đào tạo từ năm 2015 do các ngành này thành lập cơ sở đào tạo riêng, làm gián đoạn định hướng tập trung đầu mối đào tạo tư pháp quốc gia.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân Tối cao và Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, cũng như sự chưa thống nhất về nhận thức đối với mô hình đào tạo chung nguồn chức danh tư pháp. Khi đối sánh với mô hình của một số quốc gia phát triển như Cộng hòa Liên bang Đức hay Cộng hòa Pháp, việc đào tạo chức danh tư pháp tại các nước này đều duy trì trung tâm đào tạo quốc gia duy nhất để đảm bảo sự bình đẳng về chuẩn kỹ năng tố tụng giữa thẩm phán, công tố viên và luật sư.

Trong nghiên cứu, dữ liệu biến động nhân sự và quy mô đào tạo qua 20 năm có thể được minh họa trực quan qua bảng tổng hợp 11 chương trình đào tạo và biểu đồ đường thể hiện sự chuyển dịch từ đào tạo theo chỉ tiêu hành chính sang đào tạo theo nhu cầu xã hội (chiếm tỷ trọng trên 70% tổng quy mô giai đoạn 2015 – 2018). Những phát hiện này khẳng định tính cấp thiết của việc đổi mới tư duy quản lý nhà nước theo hướng phân cấp minh bạch gắn với kiểm định chuẩn đầu ra nghiêm ngặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý quản lý liên ngành: Ban chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương và Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp cùng TAND Tối cao, VKSND Tối cao ban hành Thông tư liên tịch về quy chuẩn đào tạo chung nguồn tư pháp trước năm 2020; xác lập lộ trình pháp lý bắt buộc 100% ứng viên bổ nhiệm thẩm phán, kiểm sát viên phải hoàn thành khóa đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chuẩn quốc gia.
  2. Hiện đại hóa chương trình đào tạo và số hóa học liệu: Học viện Tư pháp tiến hành rà soát, tái cấu trúc toàn bộ 11 chương trình đào tạo chuyên ngành trong giai đoạn 2019 – 2021; số hóa 100% kho dữ liệu gồm hơn 1.500 bộ hồ sơ tình huống thực tế và tích hợp học phần kỹ năng giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế cho học viên các lớp luật sư hội nhập.
  3. Phát triển toàn diện đội ngũ giảng viên và cán bộ quản trị: Tăng tỷ lệ giảng viên cơ hữu đạt trình độ tiến sĩ lên trên 40% vào năm 2022; định kỳ bồi dưỡng kỹ năng sư phạm tương tác cho 100% trong số 600 giảng viên thỉnh giảng; ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả giảng dạy gắn với mức độ hài lòng của người học.
  4. Đổi mới quy trình kiểm định chất lượng và liên thông văn bằng: Thành lập Trung tâm Khảo thí độc lập trực thuộc Học viện; chuẩn hóa kỳ thi tốt nghiệp quốc gia với tỷ lệ sàng lọc thực chất; đảm bảo 95% học viên sau tốt nghiệp thích ứng ngay với môi trường công tác tại các cơ quan tố tụng và tổ chức hành nghề luật từ năm 2020 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tư pháp, Ban Nội chính Trung ương, Bộ Nội vụ): Khai thác luận cứ khoa học để hoàn thiện dự thảo chính sách về chế độ tuyển dụng, quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tư pháp trên phạm vi toàn quốc.
  • Ban Giám hiệu và cán bộ quản lý các cơ sở đào tạo nghề luật (Học viện Tư pháp, Học viện Tòa án, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội): Ứng dụng mô hình quản trị chương trình đào tạo, phương pháp xây dựng giáo trình tình huống và cơ chế phát triển mạng lưới giảng viên thỉnh giảng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên sau đại học ngành Luật: Sử dụng nguồn tài liệu tham khảo chuẩn xác với chuỗi số liệu thống kê độc quyền suốt 20 năm (1998 – 2018) về thực trạng quản lý hành chính trong giáo dục tư pháp.
  • Các tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức công chứng, đấu giá và thừa phát lại: Nắm bắt chuẩn đầu ra chuyên môn và các kỹ năng nghề nghiệp cốt lõi để xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nội bộ cho đội ngũ nhân sự bổ trợ tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp gồm những nội dung chính nào? Quản lý nhà nước lĩnh vực này bao gồm 5 nội dung trọng tâm: ban hành văn bản quy phạm pháp luật; kiện toàn bộ máy tổ chức và nhân sự quản lý; lập kế hoạch và chỉ tiêu đào tạo hàng năm; quản lý nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy; và tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng chuẩn đầu ra chức danh tư pháp.

2. Điểm đặc thù trong phương pháp đào tạo nghề tại Học viện Tư pháp là gì? Khác với đào tạo cử nhân luật thuần lý thuyết, Học viện Tư pháp áp dụng triết lý "lấy người học làm trung tâm, lấy hồ sơ tình huống làm nền tảng". Học viện đã chuẩn hóa hơn 1.500 hồ sơ án thực tế, đẩy mạnh phương pháp diễn án, xử lý tình huống nghiệp vụ và kết hợp đồng giảng giữa giảng viên lý thuyết cùng thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư giàu kinh nghiệm.

3. Vì sao công tác đào tạo thẩm phán và kiểm sát viên tại Học viện Tư pháp từng bị gián đoạn? Do TAND Tối cao và VKSND Tối cao thành lập các cơ sở đào tạo chuyên ngành riêng biệt (năm 2008 đối với Viện kiểm sát và năm 2015 đối với Tòa án). Sự phân tán này dẫn đến việc thiếu thống nhất đầu mối đào tạo nguồn tư pháp chung, tạo ra sự chồng chéo về chức năng quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành.

4. Đào tạo chung nguồn Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư mang lại lợi ích gì? Mô hình đào tạo chung nguồn (triển khai từ năm 2016 theo Quyết định số 2543/QĐ-BTP với khóa đầu gồm 32 học viên) giúp xây dựng mặt bằng nhận thức pháp lý đồng nhất, thấu hiểu vị trí tố tụng của các bên, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và tạo tiền đề vững chắc cho việc luân chuyển cán bộ giữa các nhánh tư pháp.

5. Luận văn đề xuất giải pháp đột phá nào cho công tác giảng viên? Tác giả đề xuất mở rộng quy mô giảng viên cơ hữu, chuẩn hóa năng lực sư phạm hiện đại cho hơn 600 giảng viên thỉnh giảng, đồng thời xây dựng quy chế phối hợp liên ngành nhằm thu hút các chuyên gia thực tiễn hàng đầu từ Tòa án, Viện kiểm sát và các Đoàn Luật sư tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý nhà nước về đào tạo các chức danh tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá khách quan chặng đường 20 năm phát triển của Học viện Tư pháp (1998 – 2018) với quy mô đào tạo 51.049 học viên, quản lý 11 chương trình nghiệp vụ và xây dựng kho học liệu hơn 1.500 hồ sơ tình huống.
  • Phân tích sâu sắc những hạn chế về phân tán đầu mối đào tạo giữa Bộ Tư pháp, Tòa án và Viện kiểm sát, cùng những rào cản về cơ cấu giảng viên và tiêu chuẩn đầu ra.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, bao quát từ thể chế, chương trình học liệu, nhân lực đến kiểm định chất lượng đào tạo với lộ trình thực hiện rõ ràng.
  • Khẳng định đào tạo chung nguồn là xu thế tất yếu nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ tư pháp ngang tầm nhiệm vụ cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện thể chế đào tạo tư pháp đến năm 2020 và định hướng 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác các mô hình phân tích chi tiết trong toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác đổi mới đào tạo và quản trị tư pháp hiện đại.