Luận văn: Kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng biến đổi khí hậu nông nghiệp Bá Thước

Nghiên cứu luận văn thạc sĩ về kiến thức bản địa dân tộc Thái trong nông nghiệp, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, Bá Thước. Khám phá giải pháp hiệu

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

61
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khám phá Kiến thức bản địa dân tộc Thái Chìa khóa thích ứng BĐKH nông nghiệp bền vững

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang đặt ra những thách thức chưa từng có cho ngành nông nghiệp toàn cầu. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số, vốn phụ thuộc trực tiếp vào tự nhiên, chịu ảnh hưởng nặng nề. Trong bối cảnh đó, kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp nổi lên như một giải pháp quý giá. Đây không chỉ là tập hợp các kinh nghiệm truyền đời mà còn là hệ thống tri thức sâu sắc, giúp bà con ứng phó linh hoạt với những thay đổi thời tiết, khí hậu. Việc tìm hiểu và phát huy kinh nghiệm bản địa này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững và kiên cường trước các tác động của BĐKH. Bài viết này sẽ đi sâu vào những giá trị cốt lõi, cách thức mà dân tộc Thái thích ứng với điều kiện khắc nghiệt, góp phần đảm bảo sinh kế và an ninh lương thực cho cộng đồng. Nghiên cứu tập trung vào việc ứng dụng kiến thức bản địa trong thực tiễn, đặc biệt tại các khu vực chịu tác động trực tiếp của BĐKH, như xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, nơi đã có những minh chứng rõ ràng về hiệu quả của các giải pháp truyền thống. Việc khai thác tri thức truyền thống này không chỉ là bảo tồn văn hóa mà còn là chiến lược phát triển nông nghiệp thông minh, dựa vào cộng đồng.

1.1. Định nghĩa và vai trò của tri thức truyền thống trong nông nghiệp

Tri thức bản địa, hay tri thức truyền thống, là hệ thống kiến thức, niềm tin, giá trị, kỹ năng và thực tiễn được phát triển và duy trì bởi các cộng đồng địa phương qua nhiều thế hệ. Đối với nông nghiệp dân tộc Thái, đây là những kinh nghiệm tích lũy về canh tác, chăn nuôi, dự báo thời tiết và quản lý tài nguyên thiên nhiên, được truyền miệng hoặc thông qua thực hành. Vai trò của kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp là vô cùng quan trọng. Nó cung cấp các giải pháp thích nghi đã được thử nghiệm và chứng minh qua thời gian, giúp cộng đồng đối phó với hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh một cách tự nhiên và hiệu quả. Các phương pháp này thường thân thiện với môi trường, ít phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài, và phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù của từng vùng. Tri thức bản địa cũng đóng vai trò cầu nối giữa con người và tự nhiên, thúc đẩy sự tôn trọng và bảo vệ môi trường, từ đó góp phần vào sự phát triển nông nghiệp bền vững lâu dài.

1.2. Tổng quan về cộng đồng dân tộc Thái và bối cảnh nông nghiệp

Cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam chủ yếu sinh sống tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, nơi địa hình đa dạng với núi đồi, thung lũng, và sông suối. Nông nghiệp là sinh kế chính, bao gồm trồng lúa nước, hoa màu, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hệ thống canh tác thường kết hợp nhiều loại cây trồng và vật nuôi, tạo nên một hệ sinh thái nông nghiệp đa dạng. Tuy nhiên, bối cảnh này đang đối mặt với những biến động lớn từ biến đổi khí hậu nông nghiệp. Nhiệt độ tăng, lượng mưa thay đổi bất thường, cùng với các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ quét, hạn hán, sạt lở đất, đang đe dọa nghiêm trọng đến năng suất và sự ổn định của sản xuất. Khóa luận tốt nghiệp của Hà Văn Hiếu (2019) đã chỉ ra rằng, tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, dân tộc Thái đã và đang vận dụng kiến thức bản địa để thích ứng với những thay đổi này, duy trì sản xuất và bảo vệ sinh kế, chứng tỏ sự linh hoạt và khả năng chống chịu BĐKH của cộng đồng.

II. Biến đổi khí hậu nông nghiệp Những thách thức cấp bách đối với đời sống dân tộc Thái

Hiện tượng biến đổi khí hậu nông nghiệp đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt đối với các cộng đồng dễ bị tổn thương như dân tộc Thái. Các tác động này không chỉ dừng lại ở năng suất cây trồng, vật nuôi mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Các mô hình thời tiết thay đổi, tần suất các sự kiện cực đoan gia tăng, khiến việc lập kế hoạch sản xuất trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Hệ thống nông nghiệp truyền thống, dù có khả năng chống chịu BĐKH nhất định, vẫn đứng trước áp lực lớn. Sự gia tăng của hạn hán kéo dài, lũ lụt bất ngờ và rét đậm, rét hại đã phá hủy mùa màng, tài sản, và thậm chí đe dọa tính mạng con người. Điều này đòi hỏi các giải pháp thích ứng khí hậu linh hoạt và bền vững, trong đó việc tận dụng kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp trở thành một hướng đi chiến lược. Nhận thức rõ về những thách thức này là bước đầu tiên để xây dựng các biện pháp phòng ngừa và thích ứng hiệu quả, giúp cộng đồng dân tộc Thái vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và phát triển.

2.1. Tác động của thời tiết cực đoan đến sản xuất và sinh kế

Thời tiết cực đoan là một trong những hệ quả rõ rệt nhất của BĐKH, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp bền vững của dân tộc Thái. Lũ quét, sạt lở đất đã phá hủy nhiều diện tích đất canh tác, đặc biệt là ruộng, vườn ven khe lạch, như đã xảy ra ở Sơn La, Lào Cai, Yên Bái và khu vực Tây Nguyên. Tình trạng hạn hán kéo dài cũng gây ra thiếu nước sinh hoạt và sản xuất nghiêm trọng, điển hình là Ninh Thuận với 16 tháng không có mưa [17]. Các sự kiện này làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, dẫn đến mất mùa, thiếu lương thực và giảm thu nhập của người dân. Hơn nữa, môi trường bị ô nhiễm sau thiên tai, gián đoạn việc học tập của trẻ em cũng là những hệ lụy đáng kể. Chị K’Nhổi, dân tộc K’Ho, huyện Di Linh, Lâm Đồng, đã chia sẻ về tình trạng mưa, nắng, nóng, lạnh thất thường không theo quy luật, sương muối, rét đậm, rét hại kéo dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất [17]. Những tác động này đe dọa trực tiếp đến sinh kế và đẩy nhiều hộ gia đình vào tình trạng khó khăn.

2.2. Sự dễ tổn thương của hệ thống nông nghiệp bản địa trước BĐKH

Hệ thống nông nghiệp dân tộc Thái truyền thống, mặc dù có nhiều ưu điểm về thích nghi, vẫn có những điểm dễ bị tổn thương trước cường độ và tần suất ngày càng tăng của các hiện tượng BĐKH. Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ và lượng mưa làm gián đoạn chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, vốn dựa vào các dấu hiệu tự nhiên đã được định hình qua hàng trăm năm. Các giống cây trồng, vật nuôi bản địa dù có khả năng chống chịu BĐKH tốt hơn so với các giống lai tạo trong một số khía cạnh, nhưng vẫn có giới hạn nhất định. Đặc biệt, việc thiếu hụt nguồn lực tài chính và tiếp cận thông tin khoa học công nghệ hiện đại khiến cộng đồng gặp khó khăn trong việc ứng phó với các kịch bản BĐKH phức tạp hơn. Việc mất đất ở, đất canh tác, cùng với sự xuất hiện của nhiều bệnh mới do thời tiết cực đoan, làm gia tăng gánh nặng chi phí sinh hoạt và chăm sóc sức khỏe, đẩy nhiều hộ dân vào vòng luẩn quẩn của sự thiếu thốn, như ghi nhận trong tài liệu nghiên cứu [Khóa luận].

III. Phương pháp canh tác truyền thống Cách dân tộc Thái thích ứng biến đổi khí hậu hiệu quả

Đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu nông nghiệp, dân tộc Thái đã phát huy những kinh nghiệm bản địa sâu sắc, được đúc kết qua nhiều thế hệ. Đây là những phương pháp canh tác truyền thống, không chỉ dựa vào sự hiểu biết về đất đai, cây trồng, vật nuôi mà còn dựa vào sự quan sát tinh tế các dấu hiệu của tự nhiên. Kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp không đơn thuần là kỹ thuật, mà là một triết lý sống hài hòa với môi trường, tôn trọng chu kỳ tự nhiên và tìm kiếm sự cân bằng. Các phương pháp canh tác truyền thống dân tộc Thái đối phó BĐKH bao gồm việc đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, áp dụng kỹ thuật canh tác thích nghi, và đặc biệt là khả năng dự báo thời tiết dựa vào các dấu hiệu thiên nhiên. Những giải pháp này giúp cộng đồng giảm thiểu rủi ro, tăng cường khả năng chống chịu BĐKH và duy trì sự ổn định của sản xuất nông nghiệp, ngay cả trong những điều kiện khắc nghiệt nhất. Việc nghiên cứu và hiểu rõ các phương pháp này mang lại những bài học quý giá cho các giải pháp thích ứng khí hậu hiện đại.

3.1. Các kỹ thuật nông nghiệp thích nghi và đa dạng hóa cây trồng vật nuôi

Một trong những trụ cột của kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp là việc áp dụng các kỹ thuật canh tác thích nghi. Cộng đồng thường duy trì sự đa dạng về hệ thống cây trồng và vật nuôi, không chỉ để đảm bảo an ninh lương thực mà còn để tăng cường khả năng chống chịu BĐKH. Ví dụ, việc trồng xen canh nhiều loại cây, luân canh theo mùa, hoặc lựa chọn cây trồng phù hợp với đặc điểm thổ nhưỡng và khả năng chịu hạn, chịu úng của từng giống. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro khi một loại cây trồng bị ảnh hưởng bởi thiên tai hoặc dịch bệnh. Sự đa dạng sinh học trong hệ thống nông nghiệp góp phần cải thiện và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, làm cho hệ thống trở nên bền vững hơn. Người dân cũng thường xuyên đúc rút kinh nghiệm về thời điểm gieo trồng, thu hoạch tối ưu, điều chỉnh theo những biến đổi nhỏ nhất của thời tiết, tạo nên một nền nông nghiệp dân tộc Thái linh hoạt và kiên cường.

3.2. Kinh nghiệm bản địa về dự báo thời tiết và quản lý tài nguyên

Kinh nghiệm bản địa của dân tộc Thái về dự báo thời tiết là một khía cạnh độc đáo và hiệu quả trong việc thích ứng BĐKH nông nghiệp. Đồng bào có khả năng quan sát các dấu hiệu từ tự nhiên như hành vi của động vật, sự phát triển của thực vật, hình thái của mây, gió, hay nhiệt độ để dự đoán thời tiết trong ngắn hạn và cả dài hạn. Điều này giúp họ chủ động trong việc chuẩn bị cho mùa vụ, phòng tránh thiên tai như lũ quét, hạn hán. Khóa luận nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đồng bào có khả năng dự báo đúng một số hiện tượng thời tiết cực đoan hay thiên tai xảy ra sau một thời gian khá dài, giúp họ có khả năng thích ứng BĐKH tốt hơn [Khóa luận]. Bên cạnh đó, các phương pháp quản lý tài nguyên như bảo vệ rừng đầu nguồn, duy trì nguồn nước, và sử dụng đất một cách hợp lý cũng là những phần không thể thiếu của tri thức truyền thống, đảm bảo sự bền vững cho nông nghiệp dân tộc Thái và sinh kế lâu dài.

IV. Bí quyết bảo tồn giống bản địa Tăng cường khả năng chống chịu BĐKH nông nghiệp

Bảo tồn và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi bản địa là một trong những bí quyết quan trọng nhất trong kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp. Các giống này không chỉ thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương mà còn mang trong mình khả năng chống chịu BĐKH vượt trội so với nhiều giống mới. Chúng ít bị dịch bệnh, ít yêu cầu đầu tư thâm canh cao, phù hợp với mọi đối tượng, kể cả các hộ nghèo [Khóa luận]. Việc duy trì sự đa dạng di truyền này là yếu tố then chốt để đảm bảo nông nghiệp dân tộc Thái có thể đứng vững trước các cú sốc từ môi trường. Đây là một giải pháp thích ứng khí hậu tự nhiên và bền vững, góp phần vào an ninh lương thực và bảo tồn đa dạng sinh học. Bài học từ kinh nghiệm bản địa cho thấy, việc dựa vào tài nguyên sẵn có và phát huy giá trị của chúng là con đường hiệu quả để xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững và kiên cường trong bối cảnh BĐKH ngày càng phức tạp. Sự kết hợp giữa tri thức truyền thống và khoa học hiện đại sẽ mở ra những hướng đi mới cho việc bảo tồn giống bản địa.

4.1. Lựa chọn và phát triển giống cây trồng vật nuôi phù hợp khí hậu

Qua hàng trăm năm canh tác, dân tộc Thái đã đúc kết được kinh nghiệm bản địa sâu sắc trong việc lựa chọn và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm khí hậu và thổ nhưỡng của địa phương. Các giống lúa, ngô, khoai, sắn bản địa thường có sức sống mạnh mẽ, chịu hạn, chịu úng tốt, và ít bị sâu bệnh hại. Tương tự, các giống vật nuôi như gà, lợn, trâu, bò bản địa cũng có khả năng thích nghi cao với môi trường, chống chịu tốt với điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Việc này không chỉ giúp giảm chi phí đầu tư cho thuốc bảo vệ thực vật hay thức ăn công nghiệp mà còn đảm bảo chất lượng nông sản. Nông nghiệp dân tộc Thái dựa trên những giống này thể hiện sự khéo léo và thông thái trong việc khai thác tối đa tiềm năng tự nhiên. Đây là nền tảng vững chắc để cộng đồng tiếp tục duy trì sản xuất nông nghiệp bền vững và ứng phó hiệu quả với những diễn biến khó lường của biến đổi khí hậu nông nghiệp.

4.2. Vai trò của đa dạng sinh học trong duy trì hệ sinh thái bền vững

Đa dạng sinh học đóng vai trò trung tâm trong kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp. Sự đa dạng về hệ thống cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp truyền thống góp phần cải thiện và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái quan trọng. Điều này bao gồm việc duy trì độ phì nhiêu của đất, kiểm soát dịch hại tự nhiên, và điều hòa nguồn nước. Khi một hệ sinh thái nông nghiệp có đa dạng sinh học cao, nó sẽ có khả năng chống chịu BĐKH tốt hơn, giảm tính dễ bị tổn thương tại cộng đồng [Khóa luận]. Ví dụ, việc trồng xen canh nhiều loại cây giúp duy trì lớp phủ thực vật, chống xói mòn đất và giữ ẩm. Chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm khác nhau cũng tạo ra sự ổn định trong thu nhập và giảm rủi ro khi một loài bị ảnh hưởng. Sự kết hợp giữa các loài, cả hoang dã và thuần hóa, tạo nên một hệ sinh thái kiên cường, là xương sống của nông nghiệp dân tộc Thái bền vững.

V. Ứng dụng thực tiễn Hiệu quả của kiến thức bản địa dân tộc Thái tại Thành Sơn

Việc ứng dụng kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp đã được minh chứng rõ ràng tại nhiều địa phương, đặc biệt là ở xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một khu vực điển hình chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nông nghiệp, nơi dân tộc Thái đã thành công trong việc vận dụng các kinh nghiệm bản địa để duy trì sản xuất và bảo vệ sinh kế. Các phương pháp truyền thống không chỉ giúp giảm thiểu thiệt hại mà còn nâng cao khả năng chống chịu BĐKH của cộng đồng. Nghiên cứu thực tế cho thấy, tri thức truyền thống này không chỉ là di sản văn hóa mà còn là một giải pháp thích ứng khí hậu hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế và xã hội bền vững. Tuy nhiên, việc vận dụng tri thức này cũng đối mặt với những thuận lợi và khó khăn nhất định. Hiểu rõ những khía cạnh này sẽ giúp chúng ta xây dựng các chính sách và chương trình hỗ trợ phù hợp, phát huy tối đa giá trị của nông nghiệp dân tộc Thái trong tương lai.

5.1. Những điển hình thành công trong việc thích ứng BĐKH tại địa phương

Tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa, các hộ dân dân tộc Thái đã áp dụng thành công kiến thức bản địa để thích ứng với BĐKH. Một ví dụ điển hình là việc lựa chọn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa có khả năng chống chịu BĐKH tốt, ít bị dịch bệnh và không đòi hỏi đầu tư thâm canh cao, phù hợp với điều kiện của người dân địa phương, kể cả những hộ nghèo [Khóa luận]. Người dân cũng chủ động thay đổi lịch thời vụ, áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững như làm đất tối thiểu, sử dụng phân bón hữu cơ, và bảo vệ nguồn nước. Kinh nghiệm bản địa về dự báo thời tiết cũng giúp họ chuẩn bị tốt hơn cho các sự kiện khí hậu cực đoan, giảm thiểu thiệt hại. Những thành công này chứng tỏ tri thức truyền thống không chỉ mang tính lịch sử mà còn có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp bền vững và nâng cao đời sống cộng đồng trước những thách thức của BĐKH.

5.2. Thuận lợi và thách thức khi vận dụng tri thức bản địa trong thực tế

Việc vận dụng tri thức bản địa của dân tộc Thái trong thích ứng BĐKH nông nghiệp mang lại nhiều thuận lợi. Tri thức này vốn có sẵn trong cộng đồng, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, liên tục đổi mới, tiếp thu và thích ứng với điều kiện hiện tại [Khóa luận]. Đây là những kinh nghiệm tích lũy từ lâu đời, được đúc rút và thực hành tại một vùng nhất định, tạo nên các biện pháp kỹ thuật, kiến thức ứng phó hữu ích cho chính cộng đồng đối với vấn đề BĐKH tại địa phương. Tuy nhiên, cũng tồn tại không ít thách thức. Sự mai một của kiến thức bản địa do tác động của hiện đại hóa, thiếu sự ghi chép và hệ thống hóa, cùng với việc khó khăn trong việc kết hợp giữa tri thức truyền thống và khoa học công nghệ hiện đại, là những rào cản. Ngoài ra, việc thiếu chính sách hỗ trợ và nguồn lực để phát huy nông nghiệp dân tộc Thái dựa trên tri thức này cũng là một vấn đề cần được quan tâm, đòi hỏi các giải pháp thích ứng khí hậu tổng thể.

VI. Tương lai nông nghiệp Phát huy Kiến thức bản địa dân tộc Thái trong kỷ nguyên BĐKH

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu nông nghiệp ngày càng phức tạp, việc phát huy kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp không chỉ là một yêu cầu cấp thiết mà còn là một chiến lược thông minh để hướng tới sản xuất nông nghiệp bền vững. Những kinh nghiệm bản địatri thức truyền thống của dân tộc Thái đã chứng minh được giá trị và hiệu quả trong việc đối phó với các thách thức môi trường. Để đảm bảo tương lai vững chắc cho nông nghiệp dân tộc Thái, cần có những định hướng rõ ràng và các khuyến nghị cụ thể nhằm bảo tồn, phát triển và tích hợp tri thức này vào các chính sách phát triển nông nghiệp quốc gia. Việc kết hợp hài hòa giữa giải pháp thích ứng khí hậu truyền thống và hiện đại sẽ mở ra con đường cho một nền nông nghiệp kiên cường, giúp cộng đồng dân tộc Thái thích ứng hiệu quả và bền vững hơn trước những biến động khó lường của khí hậu. Đây là chìa khóa để xây dựng một tương lai xanh và thịnh vượng cho các vùng dân tộc thiểu số.

6.1. Khuyến nghị và định hướng cho việc bảo tồn phát triển tri thức này

Để bảo tồn và phát triển kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp, cần có các chính sách cụ thể. Khuyến nghị bao gồm việc lập hồ sơ, ghi chép và hệ thống hóa các tri thức truyền thống về canh tác, chăn nuôi, và dự báo thời tiết của dân tộc Thái. Cần có các chương trình giáo dục để truyền lại kinh nghiệm bản địa này cho thế hệ trẻ, kết hợp với giáo dục về BĐKH hiện đại. Thúc đẩy các nghiên cứu khoa học để đánh giá và chứng minh giá trị của kiến thức bản địa, từ đó tích hợp chúng vào các chương trình khuyến nông và phát triển nông thôn. Đồng thời, cần hỗ trợ cộng đồng về nguồn lực tài chính và kỹ thuật để họ có thể tiếp tục ứng dụng và phát triển các giải pháp thích ứng khí hậu dựa trên tri thức của mình, qua đó củng cố khả năng chống chịu BĐKH của nông nghiệp dân tộc Thái.

6.2. Hướng tới một nền nông nghiệp dân tộc Thái bền vững kiên cường

Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền nông nghiệp dân tộc Thái bền vững, kiên cường và có khả năng chống chịu BĐKH cao. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức bản địa dân tộc Thái thích ứng BĐKH nông nghiệp với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại. Cần khuyến khích đa dạng hóa sinh kế, phát triển các mô hình nông lâm kết hợp, và tăng cường chuỗi giá trị cho nông sản bản địa. Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng nông thôn, hệ thống thủy lợi, và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân. Việc trao quyền cho cộng đồng, đặc biệt là phụ nữ và người cao tuổi, trong việc đưa ra quyết định về sản xuất nông nghiệp bền vững là rất quan trọng. Bằng cách phát huy toàn diện giá trị của tri thức truyền thống, dân tộc Thái có thể không chỉ đối phó mà còn phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên BĐKH, trở thành hình mẫu về giải pháp thích ứng khí hậu dựa vào cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận văn thạc sĩ tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã thành sơn huyện bá thước

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Biến đổi khí hậu và những tác động của nó đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam là một trong 5 nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Xã Thành Sơn là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

Nông nghiệp là nền kinh tế chủ yếu của xã, xã có địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi suối, núi nên đường giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn bản vùng cao. Trong những năm qua trên địa bàn xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan kéo dài như sương muối, rét đậm, nắng nóng kéo dài thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp; lũ lụt, sạt lở đất thất thường. làm cho nền nông nghiệp của xã đang bị đe dọa. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng ngày một gia tăng, nông dân bị mất mùa thường xuyên phải thay đổi giống cây trồng mới, năng suất, chất lượng, nông sản giảm mạnh, ảnh hưởng tới sinh kế nông dân và nhất là nông dân các bản vùng cao.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều kết quả nghiên cứu, đánh giá các hoạt động thích ứng với BĐKH của hộ nông dân, đặc biệt là các hộ người dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp. Để tìm hiểu các biện pháp thích ứng của bà con dân tộc Thái áp dụng các kiến thức bản địa để ứng phó với BĐKH, em lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu các kiến thức bản địa (KTBĐ) của đồng bào dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong sản xuất nông nghiệp, từ đó tiếp tục tìm hiểu, bổ xung và phát triển các KTBĐ giúp bà con nhân dân vùng dân tộc Thái có thêm kiến thức để ứng phó với BĐKH trong bối cảnh hiện nay và tương lai.

Mục tiêu cụ thể - Khảo sát đánh giá được thực trạng của người dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong việc sử dụng KTBĐ để ứng phó với BĐKH. - Đánh giá được những thuận lợi khó khăn của người dân tộc Thái trong việc vận dụng KTBĐ và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hoạt động thích ứng với hiện tượng BĐKH/thời tiết cực đoan. - Đề xuất giải pháp phát triển KTBĐ của người dân tộc thiểu số trong thích ứng BĐKH 1. Ý nghĩa của đề tài 1.

Ý nghĩa trong học tập - Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã học tại trường và làm quen dần với công việc thực tế. - Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu của một đề tài khoa học cụ thể. - Tạo điều kiện cho sinh viên được vận dụng những kiến thức được học áp dụng vào thực tiễn và biết vận dụng kiến thức vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học. - Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu quan trọng cho các nghiên cứu có liên quan.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành, đưa ra phương hướng để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng vững mạnh.

3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Những khái niệm về biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế – xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người. Nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm về BĐKH: là sự biến động giữa năm này và năm khác được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như: Bão, lụt, hạn hán bất thường. Quan điểm ở đây về BĐKH chính là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian.

Mốc đánh dấu thời gian BĐKH từ 30 năm trở lên. Theo Rex và đồng tác giả (2007), BĐKH ở Việt Nam đó là gia tăng nhiệt độ và ngày càng nóng hơn vào mùa hè và nhiệt độ cực thấp, kéo dài vào mùa đông, cũng như tần suất, cường độ của lụt, hạn, bão, rét hại và mưa thất thường xảy ra trong năm. BĐKH là những thay đổi của các yếu tố khí hậu hoặc các hiện tượng khí hậu cực đoan không theo một xu thế nhất định (khoảng thời gian xem xét ngắn hơn BĐKH). BĐKH với các biểu hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng là do các hoạt động kinh tế - xã hội của con người gây phát thải quá mức gây hiệu ứng nhà kính.[10] Định nghĩa chung nhất cho sự BĐKH là sự thay đổi các đặc điểm mang tính thống kê của hệ thống khí hậu khi xét đến những chu kỳ dài hoặc hàng thập kỷ hoặc lâu hơn, mà không kể đến các nguyên nhân theo đó, những thay đổi bất thường trên những chu kỳ ngắn hơn một vài thập kỷ, như El Nino, không thể hiện sự thay đổi khí hậu.

Thuật ngữ này đôi khi được sử dụng để nhắc đến những trường hợp đặc biệt của biến đổi khí hậu do tác động của hoạt động con người; ví dụ, trong công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi 4 Khí hậu (United Nations Framework Convention on Climate Change) định nghĩa BĐKH là "là sự thay đổi của khí hậu mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp do tác động của hoạt động con người dẫn đến thay đổi thành phần khí quyển toàn cầu và ngoài ra là những biến thiên tự nhiên của khí hậu được quan sát trên một chu kỳ thời gian dài." Trong định nghĩa cuối thay đổi khí hậu đồng nghĩa với ấm lên toàn cầu. Kiến thức là một thuật ngữ mang tính triết học và có thể được định nghĩa là một tập hợp các sự kiện khác nhau và các đặc tính thông tin,được chia thành hai loại: kiến thức khoa học và KTBĐ.[12] Theo UNESCO (2010), KTBĐ là những tri thức địa phương, là duy nhất và đặc trưng cho một nền văn hóa và xã hội. Ashok Das Gupta (2012) cho rằng KTBĐ là một hệ thống của các tri thức mà người dân địa phương đạt được thông qua việc tích lũy kinh nghiệm, và các thử nghiệm không chính thức, và sự hiểu biết sâu sắc về môi trường trong một nền văn hóa cụ thể. Okeke (2013) lại định nghĩa kiến thức bản địa là kiến thức địa phương được thể chế hóa, được xây dựng dựa trên lời nói và được truyền từ người/thế hệ này sang người/thế hệ khác bằng lời nói.

Nó là cơ sở để ra quyết định ở cấp địa phương trong nông nghiệp, y tế, chế biến thực phẩm, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và một loạt các hoạt động khác trong cộng đồng nông thôn (Ashok Das Gupta, 2012; E. Ajani và CS, 2013). “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những khái niệm liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu 2.

Khái niệm thích ứng với biến đổi khí hậu Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng. Thích ứng là một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực BĐKH nó dùng trong rất nhiều trường hợp. Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người 5 làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ, đời sống và sử dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH.

Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau. Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương. Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH.

Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng. Cây cối, động vật và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình. Cây cối, động vật và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới. Con người cũng có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư.

Không có đánh giá về những quá trình thích ứng, nghiên cứu tác động sẽ không thể đánh giá chính xác và đầy đủ những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH. Một lý do nữa cho đánh giá thích ứng là giúp cho những nhà lập chính sách biết có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro của BĐKH. Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực. Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng ở Việt Nam Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã nhận thức được những nguy cơ và thách thức gây ra do sự nóng lên toàn cầu, hậu quả chủ yếu từ những hoạt động của chính con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ