Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Một số vấn đề về vị từ và vai nghĩa 1. Một số vấn đề về vị từ Trong văn liệu Việt ngữ học, chúng ta thấy có nhiều cách hiểu khác nhau về vị từ. Chúng ta có thể điểm qua một số quan điểm đã được tác giả Nguyễn Văn Hiệp trình bày trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp như sau: Từ những năm 60, trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt đã xuất hiện khái niệm vị từ (hay thuật từ), để đối lập với thể từ, với tư cách là hai phạm trù từ vựng - ngữ pháp quan trọng nằm trong phạm vi thực từ.
Tuy nhiên, tiếng Việt không biến đổi hình thái, vì vậy sự phân biệt giữa thể từ và vị từ được điều chỉnh theo tiêu chí kết hợp (khả năng kết hợp được coi là một kiểu hình thức: hình thức phân tích tính, để phân biệt với các biến tố, vốn được coi là hình thức tổng hợp tính). Sự phân biệt này là như sau: thể từ là những từ khi làm vị ngữ trong câu phải có là đứng trước, còn vị từ là những từ có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu, không cần có sự trợ giúp của là. Theo đó, thể từ tiếng Việt gồm có danh từ, số từ, đại từ. Còn vị từ sẽ gồm động từ và tính từ.
Tuy nhiên, trong lý thuyết kết trị của Tesnière, cũng như trong ngôn ngữ học Âu - Mĩ hiện nay, thuật ngữ vị từ (predicate) được xác định theo một cách thức hoàn toàn khác: vị từ được xác định thông qua khái niệm vị tố (predicator), và đến lượt mình, khái niệm vị tố được xác định thông qua khái niệm biểu thức quy chiếu (reference expression). Trong đó, biểu thức quy chiếu là những biểu thức mà người nói dùng để quy chiếu những thực thể nào đó trong thế giới diễn ngôn; vị tố là phần còn lại sau khi loại bỏ đi các biểu thức quy chiếu và vị từ là những từ có thể làm vị tố. Theo định nghĩa và cách xác định trên thì vị từ có thể là động từ, tính từ, danh từ, số từ và cả giới từ. Chúng tôi thấy quan điểm vị từ này là phù hợp và có giá trị đối với người nghiên cứu khi đi vào mô tả đặc trưng cú pháp cũng như ngữ nghĩa của câu tiếng Việt.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cao Xuân Hạo - người theo trường phái ngữ pháp chức năng, trên cơ sở phân loại vị từ của Dik và dựa vào đặc trưng riêng của tiếng Việt để phân chia vị từ trong tiếng Việt. Căn cứ vào tiêu chí [+/-Động], [+/-Chủ ý] và [+/-Tồn tại] đã chia thành ba loại nghĩa biểu hiện: câu tồn tại; câu chỉ sự tình động hay sự việc, biến cố và câu chỉ sự tình tĩnh hay tình hình. Tuy nhiên, từ các kiểu nghĩa biểu hiện này có thể suy ra cách phân chia vị từ trong tiếng Việt của tác giả. Theo đó, vị từ trong tiếng Việt sẽ được chia thành 5 loại: vị từ tồn tại, vị từ hành động, vị từ quá trình, vị từ trạng thái và vị từ quan hệ căn cứ vào tiêu chí [+/-Động], [+/-Chủ ý], [+/-Nội tại].
Trong đó, vị từ hành động sẽ bao gồm các thuộc tính [+Động], [+Chủ ý]; vị từ quá trình: [+Động], [-Chủ ý]; vị từ trạng thái: [-Động], [+Nội tại] và vị từ quan hệ: [-Động], [-Nội tại]. Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phân chia vị từ của Cao Xuân Hạo. Tuy nhiên, do giới hạn luận văn cũng như khả năng của bản thân, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu, mô tả và phân tích cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của vị từ hành động và vị từ quá trình. Từ đó bổ sung các thuộc tính ngữ nghĩa vào văn phạm TAG.
Đặc trưng cú pháp và ngữ nghĩa của 2 nhóm vị từ này sẽ được chúng tôi làm rõ trong Chương 2 và Chương 3 của luận văn. Vị từ là trung tâm ngữ nghĩa của khung vị từ nên sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với vai nghĩa. Dưới đây, chúng tôi sẽ đi vào chi tiết về vai nghĩa để thấy được mối quan hệ giữa chúng. Một số vấn đề về vai nghĩa 1.
Khái niệm vai nghĩa Khái niệm vai nghĩa đã được các nhà ngôn ngữ dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau: cách (cases), quan hệ ngữ nghĩa (semantic relations), vai nghĩa (roles, case-roles); hoặc vai tham tố (thematic roles, theta-roles), như trường phái ngữ pháp cải biến (transformational grammar) thường gọi. Fillmore, một sự tình gồm một vị từ trung tâm và quây quần quanh nó là các ngữ đoạn biểu thị những cách ngữ nghĩa hay vai nghĩa (semantic role) nào đó. Fillmore đã đưa ra một số vai nghĩa mà ông cho là có tính phổ quát, có thể tìm thấy trong mọi ngôn ngữ, phản ánh một phương diện chung trong cách thức chúng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ta tri nhận về thế giới: “Ý niệm về cách bao gồm một tập hợp khái niệm phổ quát, được giả định là bẩm sinh, xác định những kiểu tri nhận nào đó của con người về những sự tình đang diễn ra quanh họ, tri nhận những vấn đề như ai thực hiện nó, nó xảy ra đối với ai, và cái gì thay đổi” [23; tr. Định nghĩa của Fillmore cho thấy tác giả nhấn mạnh tính phổ quát của vai nghĩa: nếu kết cấu bẩm sinh của miền nhận thức là giống nhau ở mọi người và nếu vai nghĩa là những khái niệm nhận thức cơ bản (cognitive primitives) thì chẳng phải đó là các phổ niệm (universals).
Theo định nghĩa trên của Fillmore về vai nghĩa thì chúng ta có thể hiểu là vai nghĩa tồn tại trong nhận thức nhưng độc lập với ngôn ngữ và có lẽ là có trước ngôn ngữ và rằng hệ thống ngôn ngữ có sử dụng các vai nghĩa thì tồn tại độc lập với các vai này. Theo tác giả Cao Xuân Hạo, câu biểu hiện một sự tình (hay sự thể). Nội dung (nghĩa biểu hiện) của nó có thể hình dung như một “cảnh” (một màn kịch ngắn) diễn trên sân khấu. Cái cảnh ấy có một nội dung nhất định: trên sân khấu hiện ra quang cảnh nào đấy (một sự tình tĩnh), rồi lại diễn ra một sự việc nào đấy (một sự tình động).
51] Như vậy, các tham tố là các vai nghĩa trong một màn kịch nhỏ của một sự thể. Vấn đề vai nghĩa là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo nhiều quan điểm khác nhau. Nhìn chung, các nhà ngôn ngữ chưa có sự thống nhất trong việc xác định, miêu tả cũng như chưa đưa ra được danh sách và tên gọi của các vai nghĩa. Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong công trình Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp đã đề cập đến tình hình này và đưa ra những lí do lý giải cho tình hình này như sau: - Thứ nhất, hiện nay nhiều tác giả khác nhau khi nghiên cứu vai nghĩa đã nêu ra một danh sách khác nhau.
Thường thấy, là một danh sách khoảng vài chục vai, nhưng cũng có thể lên đến hàng trăm vai (Dixon 1992). 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thứ hai, tên gọi của các vai có thể khác nhau. Có tình trạng một số tác giả dùng chung tên gọi vai nghĩa, nhưng quan niệm khác nhau. Lại có tình trạng dùng tên gọi vai nghĩa khác nhau, nhưng quan niệm lại giống nhau… Bên cạnh đó cũng phải tính đến khả năng là một ngữ đoạn nào đó trong câu có thể đảm nhận hơn một vai nghĩa, tức nhìn từ góc độ này thì có thể cho rằng nó biểu thị vai nghĩa x, nhưng nhìn từ góc độ khác lại có thể cho rằng nó biểu thị vai nghĩa y.
Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một nguyên tắc mang tính phương pháp luận khi phân định và trừu xuất vai nghĩa. Đó là: “Vai nghĩa mà một thực thể đảm nhiệm trong sự tình luôn luôn phụ thuộc vào bản chất của sự tình đó, và thực là vô nghĩa nếu ta tách biệt các vai nghĩa khỏi sự tình mà trong đó chúng xuất hiện” [23; tr. 47] Điều này có nghĩa là khi ta xác định một ngữ đoạn hay một cú đảm nhiệm một vai nghĩa nào đó thì ta không được tách nó ra khỏi sự tình mà nó xuất hiện. Phân loại vai nghĩa a) Phân loại vai nghĩa của các nhà nghiên cứu trên thế giới Việc nghiên cứu vai nghĩa có thể nói là xuất hiện khá sớm.
Đầu tiên, chúng ta phải kể đến lý thuyết kết trị của nhà ngôn ngữ học người Pháp L. Ông là một trong những nhà ngôn ngữ học người đầu tiên chống chủ nghĩa lô-gích triệt để nhất. Ông cho rằng việc chia câu ra thành chủ ngữ và vị ngữ là hoàn toàn sai lạc vì đó là kết quả của sự lẫn lộn cấu trúc của câu với cấu trúc mệnh đề. Theo ông: “Cấu trúc cú pháp của câu xoay quanh vị từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó.
Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó. Mỗi vị từ biểu hiện “một màn kịch nhỏ”, nó có một diễn trị (valence) riêng được thể hiện trong số lượng các diễn tố của nó. Như vậy, có thể nói là các vị từ khác nhau cơ bản về số lượng các diễn tố trong vị ngữ. Điều này có nghĩa là dựa trên tiềm lực cú pháp - ngữ nghĩa của vị từ để phân loại chúng thành: - Vị từ vô trị (avalents) không có diễn tố nào trong câu, ví dụ như vị từ pleut, il pleut “mưa” không có diễn tố nào.
- Vị từ đơn trị (monovalents) là vị từ có một diễn tố, ví dụ như tomber “ngã”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Vị từ song trị (bivalents) là vị từ có hai diễn tố, ví dụ như frapper “đánh”. - Vị từ tam trị (trivalents) là vị từ có ba diễn tố, ví dụ như donner “cho” Lý thuyết của Tesnière phân biệt diễn tố và chu tố. Trong đó, diễn tố (actant) là những vai nghĩa bắt buộc sẽ được hiện thực hoá thông qua những ngữ đoạn, còn những vai nghĩa tuỳ nghi thì được hiện thực hoá thông qua những ngữ đoạn được gọi là chu tố (circonstant).
Trong lý thuyết của ông, vị từ là đỉnh, là tâm điểm tổ chức của câu, quyết định trực tiếp đến các diễn tố có thể xuất hiện trong câu. Việc đánh giá một vai nghĩa là bắt buộc hay tuỳ nghi phải đặt trong quan hệ với vị từ trung tâm: một vai nghĩa có thể là tuỳ nghi với vị từ này, nhưng lại là bắt buộc với vị từ khác.