Chương 1. (2–CLOROPHENYL)DIPHENYLMETHANOL Công thức phân tử: C19H15ClO Khối lượng phân tử: 294,7 g/mol Công thức cấu tạo: Hình 1.1: Công thức cấu tạo của (2-clorophenyl)diphenylmethanol Tính chất: Bột tinh thể, màu trắng. Rất tan trong dicloromethan, dễ tan trong diethyl ether, tan trong methanol và thực tế không tan trong nước. Nhiệt độ nóng chảy: 92 – 96oC [12],[16].
TẠP CHẤT VÀ KIỂM SOÁT TẠP CHẤT TRONG THUỐC Thuốc là một sản phẩm đặc biệt có liên quan trực tiếp đến cơ thể con người, vì vậy chất lượng thuốc cần phải kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo là an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng. Chất lượng thuốc được đánh giá dựa vào độ đồng nhất, độ ổn định và hàm lượng/độ tinh khiết của sản phẩm, và tạp chất là một trong các tiêu chí kiểm tra để xác định thuốc có đạt chất lượng hay không. Đối với nguyên liệu làm thuốc, tạp chất là bất kỳ thành phần nào không phải là hoạt chất. Còn trong các chế phẩm, tạp chất là các thành phần không có mặt trong công thức bào chế.
Tạp chất bao gồm tạp chất hữu cơ, tạp chất vô cơ hoặc dung môi tồn dư. Nguồn gốc xuất hiện của tạp chất có thể từ tất cả yếu tố tham gia vào qui trình sản xuất như nguyên liệu đầu vào, sản phẩm trung gian, sản phẩm phụ, sản phẩm phân hủy, dung môi, chất xúc tác, sản phẩm phân hủy,. Việc kiểm soát các tạp chất trong nguyên liệu và đặc biệt là trong thành phẩm tương ứng chưa được quan tâm nhiều tại Việt Nam vì nhiều lí do. Một trong số 2 Luan van thac si các lí do đó là một số tạp chất chuẩn vẫn chưa có hoặc nếu có thì thường phải nhập khẩu nên rất đắt tiền.
Trong khi đó, phần lớn các chuyên luận của các Dược điển hiện hành đều bắt buộc phải kiểm soát tạp chất. Gần đây, cục Quản lí dược Việt Nam đã có yêu cầu phải kiểm soát tạp chất một cách chặt chẽ hơn trong nguyên liệu và thành phẩm đăng kí cho sản xuất và lưu hành [3]. Muốn kiểm soát tạp chất thì cần phải sử dụng tạp chuẩn trong nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và kiểm nghiệm. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, số lượng tạp chuẩn được thiết lập còn rất ít, khoảng 10 chất, do Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương và Viện kiểm nghiệm thuốc thành phố Hồ Chí Minh thiết lập.
Như tạp chất của paracetamol (4-aminophnol, 4-chloroacetanilid), tạp chất của metronidazol (tạp A: 2-methyl-4(5)-nitroimidazol), tạp chất của amlodipin (tạp D: (3-ethyl 5-methyl 2 - [(2-aminoethoxy)methyl] – 4 - (2- clorophenyl) – 6 – methyl - pyridin-3,5-dicarboxylat), tạp chất của nifedipin (tạp A: Dimethyl 2,6-dimethyl-4-(2-nitrophenyl)-pyridin-3,5-dicarboxylat, tạp B: Dimethyl 2,6-dimethyl-4-(2-nitrosophenyl)-pyridin-3,5-dicarboxylat). So sánh với nhu cầu sử dụng chuẩn tạp chất thì số lượng này là quá ít. Đồng thời các chất chuẩn nói trên chủ yếu là chuẩn làm việc, chưa phải là chất chuẩn Dược điển Việt Nam [19],[20]. Nguyên nhân có thể do việc thiết lập tạp chuẩn chất khó hơn nhiều so với chất chuẩn hoạt chất thông thường, chi phí nghiên cứu và thiết lập lớn, không có nguồn nguyên liệu có chất lượng cao và ổn định để tiến hành thiết lập chuẩn,.
Do không có nguồn tạp chuẩn sẵn có trong nước, khi các đơn vị có nhu cầu sử dụng phải nhập khẩu từ nước ngoài nên giá thành rất cao, mất nhiều thời gian, thủ tục nhập khẩu phức tạp, đơn hàng thường rất nhỏ lẻ nên khó đặt hàng. Thực tế đó đã đặt ra thách thức lớn cho các đơn vị có chức năng thiết lập chuẩn tại Việt Nam cần phải có nghiên cứu thiết lập các chất chuẩn là tạp chất bên cạnh các chất chuẩn hoạt chất. Khi có nguồn chất chuẩn sẵn có, dễ tiếp cận với giá thành hợp lí sẽ mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao. Tạo điều kiện cho các công ty trong nước đẩy mạnh sử dụng chuẩn tạp trong nghiên cứu phát triển sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn và kiểm 3 Luan van thac si soát chất lượng.
Đối với các đơn vị trong hệ thống kiểm nghiệm, có thể sử dụng để thực hiện các phép thử tạp chất mà cần phải có tạp chất chuẩn mới thực hiện được. Từ đó góp phần làm nâng cao chất lượng thuốc sử dụng ở Việt Nam cũng như tăng cường hòa nhập với tiêu chuẩn chung của quốc tế đối với thuốc xuất khẩu. Trong nguyên liệu Clotrimazol, tạp chất (2-clorophenyl)diphenylmethanol là sản phẩm phụ của quá trình tổng hợp, đồng thời là tạp phân hủy. Trong quá trình sản xuất và bảo quản chế phẩm, lượng tạp chất này còn có thể tăng lên do ảnh hưởng của các thành phần khác có trong thuốc [10],[17].
Chính vì vậy, các Dược điển hiện hành đều có yêu cầu phải kiểm soát tạp chất (2- clorophenyl)diphenylmethanol trong nguyên liệu và thành thẩm chứa hoạt chất clotrimazol. Theo yêu cầu Dược điển Việt Nam IV, Dược điển Mỹ 38, Dược điển Anh 2014 và các Dược điển hiện hành khác đều yêu cầu phải sử dụng tạp chuẩn để kiểm soát lượng tạp chất (2-clorophenyl)diphenylmethanol trong cả nguyên liệu và thành phẩm của Clotrimazol bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao hoặc sắc kí lớp mỏng [2],[12],[13],[15]. Dược điển Việt Nam IV: Chuyên luận Clotrimazol: chỉ tiêu giới hạn (2- Clorophenyl)diphenylmethanol Giới hạn: Không được lớn hơn 0,2%. Tiến hành theo phương pháp sắc kí lớp mỏng (Phụ lục 5.
Bản mỏng: Silica gel GF254. Dung môi khai triển: Toluen - propanol - amoniac đậm đặc (90 : 10 : 0,5). Dung dịch thử (1): Hòa tan 0,50 g chế phẩm trong ethanol 96% và pha loãng thành 5 ml với cùng dung môi. Dung dịch thử (2): Pha loãng 1 ml dung dịch thử (1) đến 10 ml bằng ethanol 96%.
4 Luan van thac si Dung dịch đối chiếu (1): Hòa tan 50 mg clotrimazol chuẩn trong ethanol 96% (TT) vừa đủ 5 ml. Dung dịch đối chiếu (2): Hòa tan 10 mg (2-clorophenyl)diphenylmethanol chuẩn trong vừa đủ 5 ml bằng ethanol 96%. Pha loãng 1 ml dung dịch thu được thành 10 ml bằng ethanol 96%. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 10 µl mỗi dung dịch.
Triển khai sắc kí đến khi dung môi đi được ít nhất 15 cm. Để khô bản mỏng ngoài không khí, phun lên bản mỏng dung dịch acid sulfuric 10% (tt/tt) trong ethanol 96% và sấy bản mỏng ở 100oC đến 105oC trong 30 phút. Trên sắc kí đồ của dung dịch thử (1), vết tương ứng với vết của (2- clorophenyl)diphenylmethanol không được đậm hơn vết chính trên sắc kí đồ của dung dịch đối chiếu (2). Dược điển Anh 2014: Chuyên luận clotrimazol: chỉ tiêu tạp chất liên quan bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao có sử dụng dung dịch clotrimazole for peak identification CRS (có chứa tạp A, B và F) để định tính tạp chất và đánh giá sự phù hợp của hệ thống.
Chuyên luận kem clotrimazol: chỉ tiêu giới hạn 2-chlorotritanol (tạp A) và chuyên luận viên đặt âm đạo clotrimazol: chỉ tiêu tạp chất liên quan, tiến hành bằng phương pháp HPLC có sử dụng dung dịch clotrimazol tạp A ở nồng độ 0,0002% kl/tt để làm dung dịch chuẩn để so sánh tạp chất. Dược điển Mỹ 38: Chuyên luận clotrimazol: chỉ tiêu định lượng bằng phương pháp HPLC sử dụng dung dịch có chứa hỗn hợp clotrimazol và clotrimazol tạp A làm dung dịch phân giải kiểm tra sự phù hợp của hệ thống sắc kí. Chỉ tiêu giới hạn clotrimazol tạp A bằng phương pháp HPLC sử dụng dung dịch tạp clotrimazol tạp A chuẩn 50 µg/ml làm dung dịch chuẩn so sánh tạp chất. Các chuyên luận kem clotrimazol, lotion clotrimazol, clotrimazol, dung dịch dùng ngoài clotrimazol, viên đặt âm đạo sử dụng dung dịch chứa hỗn hợp có chứa clotrimazol tạp A làm dung dịch kiểm tra hệ thống sắc kí dùng cho định 5 Luan van thac si lượng, chuyên luận clotrimazol lotion - chỉ tiêu giới hạn clotrimazol tạp A sử dụng dung dịch clotrimazol tạp A chuẩn làm dung dịch so sánh tạp chất.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đơn vị nào thực hiện thiết lập tạp chuẩn (2- clorophenyl)diphenylmethanol để phục vụ nghiên cứu và kiểm nghiệm. Đồng thời, chưa có đơn vị nào cùng cấp nguồn nguyên liệu tạp này để sử dụng cho thiết lập chất chuẩn. Khi cần sử dụng phải tiến hành nhập khẩu, trong khi tạp chuẩn (2-clorophenyl)diphenylmethanol do Hội đồng Dược điển các nước trên thế giới thiết lập có giá thành rất cao. Ví dụ, clotrimazol related compound A USPRS (có giá 671 USD/lọ 25 mg tại Mỹ), 2-chlorotritanol BPCRS (có giá 186 £/ lọ 20 mg).
Còn hóa chất (2-clorophenyl)diphenylmethanol do công ty TRC (Canada) sản xuất có giá 150 USD/250 mg, do công ty SCBT (Mỹ) sản xuất có giá 450 USD/100 mg,.Đồng thời các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới lại chủ yếu tập trung vào xác định tạp chất trong nguyên liệu và thành phẩm chứa clotrimazol, chưa thấy có nghiên cứu để ứng dụng trong thiết lập chuẩn tạp chất (2-clorophenyl)diphenylmethanol. Còn qui trình sản xuất chất chuẩn của các đơn vị cung cấp chuẩn tạp này trên thế giới là bảo mật, không thể tiếp cận. Vì vậy, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu để thiết lập tạp chuẩn này sử dụng nguồn nguyên liệu tự điều chế trong nước đáp ứng nhu cầu sử dụng để kiểm soát chất lượng thuốc. XÂY DỰNG VÀ THẨM ĐỊNH PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH Theo qui định của WHO, ASEAN - phải xây dựng quy trình phân tích có độ chính xác và độ lặp lại cao, ổn định để đánh giá đúng chất lượng nguyên liệu dự kiến thiết lập chất chuẩn và phù hợp với mục đích sử dụng trong đánh giá liên phòng, kiểm tra độ ổn định của chất chuẩn.
Qui trình phải bao gồm các nhóm phép thử định tính, xác định độ tinh khiết và định lượng [7],[14],[18]. Một số phương pháp thường được sử dụng trong xây dựng qui trình phân tích dùng trong thiết lập chất chuẩn như: - Định tính, xác định cấu trúc: có thể sử dụng các phương như phổ hồng ngoại, sắc kí lỏng hiệu năng cao, sắc kí lớp mỏng (so sánh với chất chuẩn gốc), đo điểm chảy, sử dụng các phản ứng hóa học, đo góc quay cực riêng,. 6 Luan van thac si - Xác định độ tinh khiết: có thể lựa chọn sử dụng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao; sắc kí lớp mỏng, sắc kí khí, phổ hấp thụ UV-VIS, đo điểm chảy, phương pháp TGA, phương pháp DSC, xác định hàm lượng cắn sau nung, mất khối lượng do làm khô, xác định hàm lượng nước,.Đối với phép thử tạp chất, có thể là định lượng tạp chất hoặc giới hạn tạp chất trong mẫu thử. - Định lượng: để đo lượng chất phân tích có mặt trong mẫu thử.
Sử dụng các phương pháp như sắc kí lỏng hiệu năng cao, chuẩn độ đo thế, phương pháp phổ hấp thụ UV-VIS, sắc kí khí,.Có thể sử dụng chất chuẩn gốc để so sánh.