MỞ ĐẦU Nhồi máu cơ tim và đột quỵ là hai bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trong bệnh lý tắc nghẽn mạch máu. Nguyên nhân là do sự hình thành các mảng xơ vữa hoặc cục máu đông trong lòng mạch làm cho mạch bị hẹp hoặc bị thuyên tắc, dẫn tới sự cung cấp máu đến các cơ quan bị gián đoạn. Bệnh lý tắc nghẽn mạch máu có thể được điều trị bằng thuốc hoặc đặt stent để nong lòng mạch tại những vị trí mạch bị hẹp và tắc nghẽn ít. Tuy nhiên, phương pháp này có một số rủi ro như tái hẹp mạch sau thủ thuật, hình thành cục máu đông và gây chảy máu.
Trong trường hợp mạch tắc nghẽn tại nhiều vị trí hoặc mảng xơ vữa phát triển làm bít lòng mạch thì cần can thiệp sâu hơn bằng phương pháp phẫu thuật bắc cầu mạch máu [2]. Đây là kỹ thuật sử dụng một ống dẫn mạch máu để tạo cầu nối bắc qua vị trí bị tắc nghẽn. Ống dẫn mạch máu có thể sử dụng là tĩnh mạch hiển và động mạch ngực lấy trực tiếp từ cơ thể bệnh nhân. Nhưng trong trường hợp bệnh nhân đã từng trải qua phẫu thuật bắc cầu hoặc cơ thể không có mạch máu thích hợp thì phương pháp ghép từ mạch tự thân khó thực hiện được [3].
Ống dẫn mạch máu cũng có thể được làm từ vật liệu tổng hợp như polytetrafluoroethylene (ePTFE), nhưng có thể gây biến chứng tắc mạch sau ghép do hình thành huyết khối trong trường hợp ống dẫn có đường kính nhỏ[4]. Kỹ nghệ mô có thể tạo được ống dẫn mạch máu nhân tạo từ việc kết hợp giữa khung nâng đỡ và tế bào gốc [5][6]. Trong đó, khung nâng đỡ từ mạch máu dị loài khử tế bào đang được quan tâm nghiên cứu gần đây [7]. Ngoài giữ được cấu trúc và đặc tính cơ học tương tự như mạch máu tự nhiên, khung nâng đỡ cần được tái tạo lớp tế bào nội mô lót bên trong để giúp ngăn ngừa hình thành cục máu đông và chống đông máu nội mạch khi được ghép in vivo.
Việc tái tạo lớp nội mô của khung nâng đỡ có thể thực hiện được nhờ tế bào tiền thân nội mô (Endothelial progenitor cell – EPC) có trong máu người. Tế bào EPC bám dính và tăng sinh khi được cấy lên khung nâng đỡ sẽ là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo để tạo ra ống dẫn mạch máu nhân tạo hoàn chỉnh và có thể ứng dụng được trong điều trị bệnh. 2 Trên thế giới, kỹ nghệ mạch máu đã phát triển mạnh trong nhiều thập kỷ qua. Đã có nhiều nghiên cứu tạo ra khung nâng đỡ từ mạch máu khử tế bào, sau đó cấy tế bào lên khung nâng đỡ và nuôi cấy để phát triển thành mô hoàn chỉnh [5][7].
Nhưng tại Việt Nam, kỹ nghệ mô chỉ mới được quan tâm trong thời gian gần đây và hiện chỉ có rất ít công trình nghiên cứu về tạo ống dẫn mạch máu. Nhu cầu sử dụng ống dẫn mạch máu trong điều trị các bệnh do tắc nghẽn mạch máu ngày càng gia tăng. Hiểu rõ được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Tạo khung nâng đỡ cho tế bào tiền thân nội mô định hƣớng ứng dụng làm mạch máu nhân tạo”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Tạo được khung nâng đỡ từ động mạch cảnh vô bào của heo.
- Phân lập thành công tế bào tiền thân nội mô từ máu người. - Đánh giá được sự bám dính và tăng sinh của tế bào tiền thân nội mô khi được cấy lên khung nâng đỡ. Từ đó định hướng ứng dụng làm mạch máu nhân tạo. Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
KHUNG NÂNG ĐỠ TỪ MẠCH MÁU VÔ BÀO 1. Cấu tạo động mạch cảnh Dựa vào kích thước và đặc điểm, người ta chia động mạch thành ba loại: động mạch đàn hồi, động mạch cơ và tiểu động mạch. Với kích thước lớn và vị trí nằm gần tim, động mạch cảnh được xếp vào nhóm động mạch đàn hồi [8]. Động mạch đàn hồi phải có những đặc điểm thích hợp để có thể chịu được áp lực khi tim co bóp và khả năng co giãn tốt, giúp đẩy máu từ tim đến các vị trí xa trên cơ thể.
Về phương diện giải phẫu học, động mạch đàn hồi có cấu tạo gồm ba lớp: 1. Lớp trong Lớp trong là một lớp tế bào nội mô phẳng và có dạng kéo dài. Trục dài của tế bào nội mô song song với hướng dòng chảy trong mạch. Các tế bào nội mô liên kết với nhau bao phủ toàn bộ lòng mạch tạo thành một hàng rào vật lý ngăn cách dòng máu tuần hoàn với các thành phần dưới lớp nội mô.
Tế bào nội mô còn sản xuất ra các yếu tố gây co và giãn mạch, các yếu tố giúp chống đông máu nội mạch, các yếu tố viêm và chống viêm. Ngoài ra, tế bào nội mô còn hoạt động như một cấu trúc thụ thể - đáp ứng, chúng tiếp nhận các kích thích hoá học hoặc sinh lý xảy ra trong lòng mạch, từ đó điều chỉnh gây co giãn mạch máu hoặc tiết ra những chất cần thiết để chống lại tác động của kích thích, giúp duy trì ổn định nội mô [9]. Lớp giữa Đây là lớp dày nhất, gồm có tế bào cơ trơn và cấu trúc được tạo thành do tế bào cơ trơn tiết ra gọi là khuôn ngoại bào. Thành phần chính của khuôn ngoại bào mạch máu là elastin, collagen và proteoglycan.
Thành phần elastin trong lớp giữa của động mạch đàn hồi tạo thành những phiến mỏng gọi là phiến elastin nằm xen kẽ với các tế bào cơ trơn [8]. Đặc điểm cấu tạo này giúp cho động mạch đàn hồi có thể co giãn tốt. Số lượng và độ dày của phiến elastin tăng theo tuổi và huyết áp. Lớp ngoài Lớp ngoài là lớp mô liên kết với thành phần gồm có nguyên bào sợi, đại thực bào và chất nền ngoại bào.
Trong lớp này, các sợi collagen và elastin tạo thành một mạng 4 lưới liên kết lỏng lẻo và ít tổ chức hơn so với lớp giữa. Sợi collagen giúp mạch máu đảm bảo tính toàn vẹn và không bị vỡ khi áp lực máu quá lớn. Trong lớp ngoài còn có các vi mạch máu nuôi mạch và các đầu dây thần kinh [8].1: Sơ đồ cấu tạo của mạch máu. (A) cấu tạo 3 lớp của động mạch: lớp trong: lớp nội mô; lớp giữa: lớp tế bào cơ trơn mạch máu; lớp ngoài: nguyên bào sợi.
Khung nâng đỡ từ động mạch cảnh vô bào của heo 1. Những yêu cầu của kỹ nghệ mô mảnh ghép mạch máu Một mảnh ghép mạch máu cần phải có cấu trúc và đặc tính gần giống với mạch máu tự nhiên của cơ thể. Trong đó, mối quan tâm đầu tiên là khả năng chống đông máu nội mạch nhờ lớp tế bào nội mô lót bên trong. Khi được ghép in vivo, các yếu tố mô và collagen của lớp dưới nội mô của mảnh ghép tiếp xúc với các yếu tố đông máu có thể gây kích hoạt chuỗi đông máu và hình thành cục máu đông [9], gây ra biến chứng nguy hiểm như nhồi máu cơ tim và tắc mạch chi sau ghép.
Ngoài khả năng chống đông máu, mảnh ghép mạch máu cũng phải có độ bền cơ học 5 để chịu được huyết áp sinh lý của cơ thể [12]. Theo Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ (ANSI/AAMI VP20-1994), mảnh ghép mạch máu phải chịu được mức huyết áp sinh lý từ 80-120mmHg và chịu được áp lực vỡ ít nhất là 1680 mmHg. Độ bền của mạch máu tự nhiên có được là nhờ hai thành phần chính trong khuôn ngoại bào là collagen và elastin [13]. Đặc tính cứng của collagen giúp mạch không bị vỡ và duy trì được tính toàn vẹn.
Elastin có tính đàn hồi cao giúp mạch có thể co và giãn khi tim co bóp, từ đó tạo lực đẩy để tống máu đến các cơ quan. Các phƣơng pháp và tác nhân khử tế bào mô, cơ quan Tuỳ thuộc vào mật độ và loại tế bào trong mô, độ dày mô, mô chứa hoặc không chứa lipid mà lựa chọn tác nhân khử tế bào phù hợp với từng loại mô, cơ quan. Cần thiết phải hiểu rõ các tác nhân và phương pháp khử tế bào sao cho tác động ít nhất tới thành phần và cấu trúc của khuôn ngoại bào [14]. Các phương pháp khác nhau có hiệu quả khử tế bào khác nhau.
Tuy nhiên, người ta thường phối hợp nhiều phương pháp để gia tăng hiệu quả khử tế bào [15]. Phƣơng pháp vật lý Một số phương pháp vật lý dùng để khử tế bào như: đông lạnh nhanh, ép, sóng siêu âm, lắc, chênh lệch nồng độ tới hạn. Đông lạnh nhanh được dùng để khử tế bào mô gân, dây chằng, mô thần kinh. Mô được hạ nhanh xuống nhiệt độ -80oC làm hình thành các tinh thể đá, các tinh thể này gia tăng thể tích làm phá vỡ màng và gây ly giải tế bào.
Tuy nhiên, sự hình thành tinh thể đá có thể phá huỷ cấu trúc khuôn ngoại bào [14]. Phương pháp vật lý chủ yếu nhằm phá vỡ tế bào nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn mảnh vỡ tế bào (màng tế bào – thành phần bám chặt vào khuôn ngoại bào). Do đó, phương pháp này thường dùng để hỗ trợ cho phương pháp khử tế bào khác. Ví dụ như kết hợp lắc cơ học với phương pháp hoá học giúp hỗ trợ phân giải và loại bỏ mảnh vỡ tế bào.
tốc độ lắc tối ưu còn tuỳ thuộc vào thành phần, thể tích và mật độ của khối mô. Phƣơng pháp hoá học - Acid và bazơ: NaOH là bazơ mạnh có khả năng thuỷ phân và loại bỏ nhân tế 6 bào. Acid peracetic giúp loại bỏ acid nucleic tồn dư. Tuy nhiên, acid và bazơ có thể loại bỏ các yếu tố tăng trưởng khỏi lớp chất nền, gây biến tính protein mạnh và làm giảm độ bền cơ học của khuôn ngoại bào.
- Dung dịch nhược trương và ưu trương: gây ly giải tế bào do chênh lệch áp suất thẩm thấu, giúp loại bỏ tế bào tồn dư bên trong mô sau khi ly giải. - Chất tẩy: các chất tẩy ion, không ion và lưỡng cực làm tan màng tế bào và tách DNA khỏi protein. Tert-octylphenyl-polyoxythylen (Triton X-100) là chất tẩy ion có một đầu kỵ nước và một đầu ưa nước. Đầu kỵ nước gắn với lipid nên làm đứt liên kết lipid-lipid, lipid-protein, làm tan màng tế bào.
Chất tẩy ion như sodium dodecyl sulfate (SDS), Triton X-200 có đầu ưa nước mang điện tích giúp phá vỡ màng nhân hiệu quả do làm đứt các liên kết lipid-lipid, lipid-protein, DNA-protein. Tuy nhiên, do khả năng phá vỡ tương tác protein-protein nên chất tẩy ion có thể làm biến tính protein [15].