CHƯƠNG 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE TAM DINH CHI DIEU TRA VU AN HINH SU’ 1. Khái niệm, ý nghĩa của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm tạm đình chỉ điều tra vu án hình sự Về mặt lý luận, theo quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, sự vật vận động biến đổi không ngừng, không có gì là tuyệt đối. Nhận thức là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều.
Các Mác và Ăngghen đã giải thích một cách biện chứng rằng thế giới không phải là một cái gì khác ngoài vật chất vận động và phát triển. Không phải ý thức của con người sinh ra thế giới vật chất như các nhà duy tâm quan niệm mà ngược lại, vật chat tồn tại độc lập với con người. Sự phản ánh thê giới khách quan đó không phải là một hành động nhất thời, giản đơn máy móc và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ, tích cực và sáng tạo. Thế giới khách quan luôn luôn vận động biến đổi và phát triển không ngừng, ý thức của con người luôn tồn tại độc lập với thế giới vật chất.
Do đó, để nhận thức được thế giới khách quan thì đòi hỏi bộ não của con người luôn phải đặt ra những giả thuyết và đi chứng minh những giả thuyết đó là đúng đắn. Quá trình nghiên cứu, chứng minh khoa học cũng vậy, người nghiên cứu có thể có những nhận định ban đầu về đối tượng cần chứng mỉnh, tuy nhiên không phải lúc nào nhận định của con người về sự vật, hiện tượng cũng thuận lợi và đúng đắn. Hoạt động điều tra vụ án hình sự cũng là một quá trình nhận thức, đánh giá để chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Từ những thông tin ban dau mới tiếp nhận về vụ việc, Cơ quan điều tra sẽ đưa ra những giả thuyết điều tra và áp dụng mọi biện pháp điều tra để chứng minh cho những giả thuyết ấy.
Quá trình chứng minh đó không phải kéo đài mãi mà phải trong thời hạn nhất định do pháp luật quy định. Hết thời hạn đó mà chưa đủ yếu tố chứng minh những nhận định ban dau thi phải tạm dừng các hoạt động chứng minh. Theo lý luận về điều tra vụ án hình sự thì vấn đề đặt giả thuyết và điều tra, khám phá sự thật của vụ án cũng dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nếu ngay từ khi tiếp nhận những thông tin ban đầu về vụ việc mà cơ quan điều tra đã đặt ra những giả thuyết đúng đắn thì hoạt động chứng minh sự thật khách quan sẽ đạt được hiệu quá, ngược lại nếu những giả thuyết ban đầu không đúng đắn thì sẽ làm ảnh hưởng quá trình nhận thức, điều tra vụ an gap nhiều khó khăn, hậu quả làm bỏ lọt tội phạm, oan sai.
Để tạo điều kiện cho cơ quan điều tra tìm ra sự thật khách quan của vụ án, Bộ luật tố tụng hình sự quy định cho cơ quan điều tra một thời hạn nhất định, trong thời gian này cơ quan điều tra được phép áp dụng mọi biện pháp để chứng minh những giả thuyết đặt ra. Hết thời hạn đó, nếu chưa đủ căn cứ nhận định sự thật khách quan nhưng có cơ sở đẻ chứng minh cho nhận định, giả thuyết ban đầu thì có thể tạm ngưng hoạt động chứng minh này hay còn gọi là hoạt động tạm đình chỉ điều tra vụ án. Một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng mặc dù đã chứng minh được những nhận định, giả thuyết là đúng đắn nhưng lại có những căn cứ chưa thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tôi thì cơ quan tiến hành tô tụng vẫn phải tạm đình chỉ hoạt động tổ tụng. Nếu những căn cứ đó xuất hiện trong giai đoạn điều tra thì tạm ngưng các hoạt động điều tra.
Với những cơ sở ly luận của quá trình nhận thức khách quan như vậy cho nên Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về chế định tạm đình chỉ điều tra. Về mặt thực tiễn, quy định tạm đình chỉ điều tra trong tô tụng hình sự dựa trên cơ sở sau: Thứ nhất, mọi thông tin về các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đều phải được các cơ quan tiến hành tế tụng tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Nêu thấy đủ yêu tố câu thành của một tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự thì phái khởi tố và tiễn hành điều tra vụ án nhằm thu thập chứng cứ tìm ra người phạm tội. Tuy nhiên trên thực tiễn không phải lúc nào hoạt động điều tra vụ án cũng diễn ra thuận lợi, người thực hiện hành vi phạm tội thì luôn tìm cách lan trén, che giấu hành vi phạm tội và ngày càng xuất hiện nhiều loại hành vi phạm tội mới như tội phạm công nghệ cao, xuyên quốc gia, kinh tế.
Với những phương thức thực hiện ngày càng tỉnh vi, xảo quyệt nhất là trong điều kiện nước ta đang trong quá trình mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế. Sau đó, nhiều vụ án cơ quan điều tra khởi tô vụ án nhưng không tìm ra được người thực hiện hành vi phạm tội hoặc không chứng minh được tội phạm, người phạm tội nên nêu tiếp tục điều tra sẽ ảnh hưởng đến quyên và lợi ích hợp pháp của công dân, vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội. Cũng có nhiều trường hợp vì những lý do khác như bị can trốn, bị can bị mắc bệnh hiểm nghèo, hết thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự thì mặc dù cơ quan điều tra đã chứng minh được người phạm tội nhưng lại không thể †ruy cứu trách nhiệm hình sự với họ được. Trong những trường hợp này cần thiết phải tạm ngưng hoạt động điều tra để tránh tốn kém, lãng phí hoạt động điều tra, khong dé xảy ra oan sai.
Thứ bai, trong quá trình điều tra vụ án, có thé xây ra khả năng một số cán bộ, điều tra viên thiếu tỉnh thần trách nhiệm với công việc và trình độ năng lực nghiệp vụ của còn hạn chế, yếu kém hoặc có rất nhiều lý đo khác nhau làm ảnh hướng đến chất lượng, hiệu quả công việc. Nếu không quy định chặt chẽ về thủ tục tạm đình chỉ điều tra có thể dẫn đến việc lạm quyền, tủy tiện trong hoạt động tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của công đân và uy tín của cơ quan tiền hành tố tụng. Bộ luật TTHS năm 2015 quy định quá trình tố tụng hình sự từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án là một quá trình phức tap, gồm nhiều hoạt động tố tụng được thực hiện trong các giai đoạn khác nhau. Sau khi nhận được nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thâm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh trong đó có một số hoạt động điều tra để xác định dấu hiệu của tội phạm, nếu có đủ căn cứ khởi tô vụ án hình sự thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Sau khi có quyết định khởi tố, các hoạt động điều tra tố tụng được tiến hành đề thu thập các tài liệu, chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Trong BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định căn cứ, thâm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án chứ chưa đưa ra khái niệm thế nào là tạm đình chỉ điều tra vụ án. Mặt khác, theo quy định của BLTTHS hiện hành thì tạm đình chỉ vụ án (hoặc tạm đình chỉ điều tra) có cá ở ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử). Về mặt pháp lý tạm đình chỉ điều tra hay tạm đình chỉ vụ án déu la việc tam dừng hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc từng bị can, bị cáo trong vụ án.
Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà BLTTHS quy định “tạm đình chỉ điều tra” hay “tạm đình chỉ vụ án”. Nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra mà bị tam đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ điều tra vụ án”, nêu đã kết thúc giai đoạn điều tra và đã chuyên sang giai đoạn truy tố hoặc xét xử mà vụ án bị tạm đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ vụ án”. Việc quy định như vậy nhằm làm rõ thắm quyển của eơ quan ra quyết định cũng như hình thức văn bản tố tụng sử dụng để ra quyết định. Trong phạm vi luận văn nảy, tác giả chỉ tập trung làm rõ khdi niệm tạm đình chỉ điều tra.
Khi nghiên cứu khái niệm tạm đình chỉ điều tra trên cả hai phương điện lý luận và thực tiễn thì còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Cụ thẻ: Theo Đại từ điển tiếng Việt thì từ “ạm” có nghĩa “chỉ trong một thời gian ngắn và sẽ còn thay đôi ” [1§, tr. Theo Từ điển Bách khoa “am đình chỉ điều tra là việc Cơ quan điều tra ra quyết định tạm ngưng việc điều tra đổi với một hoặc một số bị can [13, tr. Phạm Mạnh Hùng cho rằng “tạm đình chỉ điều tra là việc Cơ quan điều tra tạm ngừng hoạt động điều tra đối với toàn bộ vụ ín hoặc đối với từng bị can khi có căn cứ do Bộ luậi 6 tung hinh sw quy dinh” [9, tr.
Theo Bình luận khoa học Bộ luật tô tụng hình sự năm 2015 thi “Jam đình chị điều tra là tạm ngưng việc tiễn hành điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can của vụ án đó trong thời gian nhất định. Thời hạn tạm đình chỉ điều tra tùy thuộc vào căn cứ lạm đình chỉ điều tra của vị án hoặc đổi với bị can, Cơ quan có thâm quyên ra quyết định tạm đình chỉ điều tra chính là cơ quan đang tiến hành điều tra vụ án. Cơ quan này không được tùy tiện ra quyết định tạm đình chỉ điễu tra, mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật ” [2, tr. Theo Giáo trình Luật tô tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “7m đình chỉ điều tra là tạm ngưng việc tiễn hành điều tra đối với vị án hoặc đối với từng bị can trong mội thời gian nhất định” [12, tr.
Có thể thấy, mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự không đưa ra khái niệm về tạm đình chỉ điều tra tuy nhiên, hầu hết các quan điểm khoa học pháp lý tô tụng hình sự đều khẳng định tạm đình chỉ điều tra là việc /zm dừng hoạt động 16 tung đối với vụ án hoặc bị can trong vụ án.