Chương 1 TÌNH HÌNH KINH TẾ - TÀI CHÍNH TỈNH BÌNH ĐỊNH TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 1. Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tiềm năng kinh tế - tài chính tỉnh Bình Định Bình Định là tỉnh nằm giữa vùng duyên hải Nam Trung Bộ, ở vào tọa độ địa lý 13003’ đến 14042’ vĩ Bắc, 108036’ đến 109022’ kinh Đông. Bình Định có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị của miền Trung cũng như của đất nước. Địa giới của tỉnh Bình Định: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km; phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km; phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km; phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Quy Nhơn.
Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng Nam Lào. Về điều kiện tự nhiên, Bình Định là một trong những tỉnh lớn và trù phú ở Nam Trung Bộ có diện tích 6. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, chiều rộng từ Đông sang Tây khoảng 55 km. Địa hình Bình Định đa dạng, phong phú gồm các vùng: rừng núi, đồng bằng, ven biển, hải đảo và đô thị.
Đồng bằng tuy hẹp, bị núi đồi chia cắt thành nhiều mảnh (1.700 km2, chiếm 17,5% diện tích tự nhiên), song là cánh đồng lớn của miền Trung, sau Thanh Hóa và Nghệ An. Đất đai khá màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây lương thực và cây công nghiệp. Vùng rừng núi và trung du là dạng địa hình phổ biến. Rừng núi Bình Định chiếm tới hai phần ba diện tích tự nhiên, có địa thế hiểm trở nối liền với vùng rừng núi Gia Lai ở phía Tây, với Ba Tơ (Quảng Ngãi) ở phía Bắc và Phú Yên ở phía Nam.
Dãy Trường Sơn chạy từ Bắc vào Nam, đến địa phận Bình Định thành một e 9 vòng cung lớn, ôm cả ba mặt Bắc, Tây, Nam với những vùng rừng núi bạt ngàn. Với diện tích rừng lớn đã đem lại nguồn lâm sản phong phú, đa dạng. Rừng Bình Định có hầu hết các loại động vật, thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới. Trữ lượng gỗ rất lớn, với nhiều loại gỗ quý, trong rừng có nhiều loại dược liệu quý phục vụ nhu cầu của nhân dân và cung cấp các mặt hàng xuất khẩu quan trọng.
Vùng đồng bằng Bình Định có diện tích canh tác khoảng 75.000 ha, là một vùng đồng bằng rộng lớn ở Nam Trung Bộ với nhiều cánh đồng lớn ở An Nhơn, Hoài Nhơn, Tuy Phước, Phù Mỹ… Ngoài ra, các huyện trung du, miền núi cũng có những cánh đồng nhỏ để canh tác nông nghiệp. Đất đai ở những vùng đất này khá màu mỡ, thích hợp trồng các loại cây lương thực (lúa, hoa màu) và các loại cây công nghiệp (bông, dâu tằm, dừa). Đặc biệt Bình Định nổi tiếng là một trong những xứ sở của cây dừa trong cả nước. Những vùng bạt ngàn dừa như: Hoài Nhơn, Hoài Ân… có giá trị về kinh tế khá cao.
Nhìn chung, vùng đồng bằng ven biển Bình Định là một vùng quan trọng, có giá trị lớn về kinh tế. Hàng năm, người dân Bình Định trồng lúa và hoa màu với sản lượng khá lớn không chỉ cung cấp đủ cho nhu cầu lương thực trong tỉnh mà còn cung ứng cho các tỉnh khác cũng như xuất khẩu. Đó là một trong những đặc điểm quan trọng cho việc thực hiện nghĩa vụ hậu phương của tỉnh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngoài ra, Bình Định còn thực hiện nghĩa vụ hậu phương cho các tỉnh khác về lương thực sau giải phóng, góp phần phát triển kinh tế trong tỉnh và cả nước.
Bình Định có khá nhiều sông ngòi và khe suối nằm theo chiều Đông - Tây nên không dài. Trong tỉnh có 2 con sông lớn (sông Kôn và sông Lại Giang) và 4 sông nhỏ là sông An Tường (An Nhơn), sông Hà Thanh (Tuy Phước), sông La Tinh (Phù Cát), sông Tam Quan (Hoài Nhơn). Những con sông lớn, nhỏ trong tỉnh là nguồn cung cấp nước và phù sa màu mỡ hàng năm cho các vùng đồng bằng hai bên bờ sông giúp cho việc phát triển nông nghiệp của địa phương. Bờ biển Bình Định dài 134 km, chạy từ biển Tam Quan (Hoài Nhơn) vào đến chân đèo Cù Mông với nhiều cửa biển lớn, nhỏ như: Tam Quan, An Dũ, Đề Gi, e 10 Thị Nại (hay cảng biển Quy Nhơn).
Cảng biển Quy Nhơn không chỉ là cảng biển quan trọng nhất trong tỉnh mà còn quan trọng cả khu vực Tây Nguyên cả về phát triển kinh tế và quân sự. Gần các cửa biển có nhiều sinh vật phù du, tạo cho các đàn tôm, cá quần tụ và sinh trưởng. Hàng năm, vùng biển này cung cấp rất nhiều hải sản quý như cá, chim, cá, tôm, mực, cua… để con người khai thác nguồn lợi biển, bảo đảm nhu cầu cho nhân dân và phục vụ cho công nghiệp chế biến thủy hải sản. Ven các cửa lạch, cửa sông đổ ra biển có nhiều bãi lầy, đầm phá có thể khai thác làm các đầm nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ ven bờ.
Một số vũng, vịnh, các hải đảo ven bờ là những cơ sở quan trọng cho phép Bình Định xây dựng các cơ sở nuôi trồng thủy sản và phát triển ngành “nông nghiệp biển”. Bên cạnh đó, Bình Định có các khu du lịch biển như: Quy Nhơn, Kỳ Co… với bãi tắm sạch, khí hậu tốt, cảnh quan đẹp. Đây là một trong những điểm du lịch, nghỉ mát nổi tiếng của cả nước, thu hút nhiều khách du lịch nội địa và nước ngoài, tạo điều kiện quan trọng để Bình Định có thể phát triển ngành du lịch, dịch vụ. Cũng như các tỉnh Nam Trung Bộ, Bình Định nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, khô, ẩm chia làm 2 mùa rõ rệt.
Mùa nắng từ đầu tháng 3 đến tháng 8 và mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến đầu tháng 3 năm sau. Nhìn chung, khí hậu Bình Định tương đối ôn hòa, nhờ vậy làm cho lượng nhiệt và lượng mưa dồi dào nên thời gian sinh trưởng của cây cối kéo dài trong cả năm. Cùng với đó, sự phân mùa và phân hóa khác nhau của khí hậu từng vùng tạo khả năng hình thành cơ cấu mùa vụ thích hợp và các sản phẩm đa dạng. Hệ thống đường giao thông trong tỉnh khá dày và phong phú.
Tại đây có hệ thống đường bộ, đường biển, đường sông và cảng hàng không quốc tế. Quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua tỉnh. Quốc lộ 19 nối cảng Quy Nhơn và miền Trung với thị xã An Khê, Plâyku, Kon Tum và Buôn Mê Thuột từ đó sang Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Đường biển từ Quy Nhơn, tàu thuyền lớn nhỏ có thể đi các tỉnh khác trong nước và ra quốc tế.
Đường hàng không, có sân bay Phù Cát sử dụng cho cả hàng không dân sự và quân sự, quốc tế. Với hệ thông giao thông e 11 thuận lợi như vậy đã tạo điều kiện cho Bình Định phát triển nền kinh tế hàng hóa và dịch vụ, góp phần thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển. Như vậy, với vị trí chiến lược quan trọng, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hệ thống giao thông phát triển là điều kiện để Bình Định có thể phát triển một nền kinh tế đa dạng, với nhiều ngành nghề công - nông - ngư nghiệp và dịch vụ. Hiện tại, tỉnh Bình Định có khoảng hơn 1,4 triệu dân (xếp thứ 20 cả nước, thứ 4 vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung), qua bao thăng trầm lịch sử và thời gian, Bình Định đã nhanh chóng vươn lên trở thành trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng của khu vực Nam Trung Bộ.
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và tình hình kinh tế - tài chính của tỉnh Bình Định từ năm 1897 đến năm 1945 1. Giai đoạn 1897 - 1918 Sau gần 30 năm tiến hành chiến tranh xâm lược, với Điều ước Harmand (1883) và Điều ước Paternote (1884), thực dân Pháp đã buộc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng và ký các văn tự chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp trên toàn bộ đất nước Việt Nam, do chúng trực tiếp nắm quyền ở 3 cấp: trung ương, kỳ và tỉnh. Tiếp sau đó, để tạo sự thống nhất trong khâu chỉ đạo việc cai trị các thuộc địa thuộc các thể chế khác nhau, ngày 17/10/1887, thực dân Pháp ban hành Sắc lệnh xóa bỏ tên nước Việt Nam để lập ra Liên bang Đông Dương 1 (Union Indochinoise), đứng đầu là viên Toàn quyền Đông Dương đặt dưới sự chỉ huy duy nhất của Bộ Hải ngoại và thuộc địa Pháp. Năm 1896, sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Pháp nhanh chóng triển khai Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914) trên toàn bán đảo Đông Dương.
Để nắm được vùng đất Trung Kỳ nói chung và Bình Định nói riêng, thực dân Pháp tiến hành nhiều chính sách, biện pháp khai thác. Chỉ 1 Liên bang Đông Dương lúc mới thành lập gồm có 4 xứ: Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Campuchia. Ngày 19/4/1899, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh sáp nhập Lào vào Liên bang Đông Dương. Trong 5 xứ của Liên bang Đông Dương thì Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm; Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Lào và Campuchia là xứ bảo hộ của Pháp, vẫn còn giữ chính quyền phong kiến về hình thức.
e 12 trong hai thập kỷ, các tập đoàn tư bản Pháp và chính quyền thuộc địa đã xây dựng nhiều cơ sở cho nền kinh tế - tài chính ở xứ Đông Dương. Về kinh tế, sau khi sắp xếp, củng cố bộ máy cai trị hành chính, thực dân Pháp thực hiện các chính sách đầu tư vào nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải… để phục vụ cho quá trình khai thác, bóc lột làm cho nền kinh tế Bình Định có sự biến đổi. Thâm độc nhất là chúng hướng phát triển sản xuất để xuất khẩu. Về kinh tế nông nghiệp, sau khi chiếm Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ, chính quyền thực dân bằng nhiều thủ đoạn đã tạo điều kiện cho các điền chủ người Pháp chiếm đất đai làm đồn điền trồng cao su, cà phê, chè và các loại giống cây trồng nhiệt đới khác, phát triển nông nghiệp… Quá trình chiếm hữu đất đai của người Pháp diễn ra một cách quyết liệt ngay từ cuối thế kỷ XIX và kéo dài cho đến đầu thế kỷ XX.
Thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất của nông dân với quy mô ngày càng lớn, tốc độ nhanh để lập các đồn điền.