Chương 1: Cơ sở lí luận về quản trị huy động vốn của Ngân hang thương mại. Chương 2: Thực trạng quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương — Chỉ nhánh Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương ~ Chỉ nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả tham khảo một số tài liệu như sau: ~ Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại - PGS.TS Phan Thị Thu Hà.
Giáo trình đã trình bày chuyên đề quản lý nguồn vốn và quản lý tài sản. Trong đó phần nguồn vồn và quản lý nguồn vốn đã nêu nội dung chính của huy động vốn, đặc điểm và phương pháp quản lý nguồn vốn huy động nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của ngân hàng. Thông qua giáo trình, học viên hiểu rõ hơn bản chất, vai trò của huy động vốn, từ đó học viên xây dựng lên các lí luận cơ bản về quản trị huy động vốn của NHTM cho bài luận văn của mình. ~ Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại (2010) - PGS.TS Nguyễn Đăng Đờn cùng nhóm tác giả biên soạn.
Giáo trình đã trình bày từ tổng quan đến cụ thể các vấn đề như quản trị nguồn vốn, quản trị tài sản nợ, quản trị tài sản có, quản trị tài chính. Với những nội dung này, học viên nắm bắt nội dung phương pháp quản trị ngân hàng, từ đó so sánh với thực trạng công tác quản trị huy động vốn tại Vietcombank Đà Nẵng; rồi đưa ra những đánh giá, nhận xét, tìm ra những thiếu sót, hạn chế và đề xuất giải pháp. nhằm hoàn thiện hơn công tác quản trị ~ Luận văn thạc sỹ “Phân tích, đánh giá quản trị chiến lược huy động vốn của Agribank Bình Thuận” của tác giả Ngô Tắn Phúc. Luận văn đã làm rõ cơ sở lí luận về huy động vốn và công tác quản trị hoạt động này nhằm phục vụ công tác điều hành chiến lược, đánh giá thực trạng quản trị huy động vốn tại Agribank Bình Thuận.
Thông qua tải liệu, học viên có thể so sánh và áp. dụng cho nghiên cứu của mình về vấn đề quản lý chỉ phí huy đông vốn, phân tích thực trạng quản lý qui mô và cơ cấu huy động vốn tại Vietcombank Đà Nẵng ~ Luận văn thạc sỹ “Giải pháp tăng cường huy động von tai NH TMCP Ngoại Thương Liệt Nam — CN Đà Nẵng" của tác giả Thái Trịnh Nam. Luận văn đã hệ thống hoá lý luận về công tác huy động vốn và đánh giá thực trạng công tác huy động vốn trong NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam — CN Da Nẵng. Trên cơ sở đó đã đưa ra một số giải pháp tăng cường công tác huy động, vốn tại ngân hàng.
Thông qua tài liệu này, học viên có thể tiến hành so sánh nội dung phân tích đã được tác giả đề cập với thực tế ở NH và hoàn thiện nội dung phân tích công tác quản trị huy động vốn thực tế tại NH hiện nay. Với đề tài “Quản trị huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ~ CN Đà Nẵng”, học viên vận dụng những kiến thức có liên quan từ những nghiên cứu trên, định hướng các giải pháp phủ hợp cho công tác quản trị huy động vốn tại Vietcombank Đà Nẵng, góp phần hoàn thiện và nâng cao. chất lượng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. CHUONG 1 CO SO Li LUAN VE QUAN TRI HUY DONG VON CUA NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 'Vốn hoạt động của NHTM bao gồm ba loại: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn khác theo quy định của pháp luật.
Huy động vốn ~ hoạt động tạo. nguồn vốn cho ngân hàng thương mại — đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Huy động vốn và công tác quản trị huy động vốn tập trung nghiên cứu các loại nguồn tiền được truyền tải đến ngân hàng theo các kênh dẫn khác nhau, đặc điểm và các phương pháp quản lý chúng nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh mà ngân hàng đề ra. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm về huy động vốn Huy động vốn là một trong hai mặt của hoạt động cơ bản của NHTM. 'NHTM huy động vốn dưới các hình thức sau đây: a. Nhận tiền gửi Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tông nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.
>_ Tiên gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán) Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ. ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi cho phép, các nhu cầu chỉ trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu.
Nhìn chung, lãi suất của tiền này rất thấp (hoặc bằng. không), thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng. với mức phí thấp. Thủ tục mở tài khoản rất đơn giản.
Yêu cầu của ngân hàng. là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong phạm vi số dư. số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với tài khoản cho vay (thấu chỉ — chỉ trội trên số dư có của tài khoản tiền gửi thanh toán). Một số ngân hàng sử dụng nhiều hình thức khác của tài khoản thanh toán để nâng lãi suất tiền gửi này nhằm cạnh trạnh với các tổ chức tín dụng khác.
>_Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội “Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu cho người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi thanh toán đề áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chỉ tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền ra.
Tuy khong thuận lợi cho tiêu dùng bằng tiền gửi thanh toán, song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tùy theo độ dài của kỳ hạn. > Tién gửi tiết kiệm của dân cư. Các tầng lớp dan cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dung (các khoản tiền tiết kiệm). Ngày nay, họ đều có thể gởi tiết kiệm nhằm mục đích sinh lời đối với các khoản tiết kiệm và chủ yếu là nhu cầu bảo toàn.
Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Ngân hàng có thẻ mở cho mỗi người nhiều số tiết kiệm cho mỗi kỳ hạn và mỗi lần gửi khác nhau. Số tiết kiệm này không dùng. để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay vốn nều được ngân hàng cho phép.
> Tiền gửi của các ngân hàng khác Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, NHTM này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác. Tuy nhiên, qui mô nguồn này thường. Tiền vay từ các tổ chức tín dụng Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất đối với NHTM. Tuy nhiên, khi cần ngân hàng thường vay mượn thêm.
Do NHNN (Ngân hàng Trung ương) ở nhiều nước thường quy định tỷ lệ giữa nguồn tiền huy động và vốn chủ sở. hữu, nên khả năng huy động của một số ngân hàng nhỏ bị hạn chế. nhiều ngân hàng phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chỉ trả vào một số giai đoạn nào đó. Vay Ngân hàng Nhà Nước Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chỉ trả của NHTM.
Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHNN. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn. NHNN điều hành vay mượn một cách chặt chẽ, NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Trong trường hợp không đủ điều kiện, NHNN cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
>_ Vay các TCTD khác Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu do dư gia tăng bắt ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thê sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay dé tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chỉ trả cắp bách và trong.
nhiều trường hợp nó bỗ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHNN. Quá trình vay mượn rất đơn giản. Ngân hàng chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý (hoặc NHNN). Khoản vay có thê không cần đảm bảo, hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của.
>_ Vay trên thị trường vốn Giống như các doanh nghiệp khác, các ngân hàng cũng vay mượn bằng. cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Rất nhiều NHTM thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến không. đáp ứng được nhu cầu cho vay trung va dai hạn.
Do vậy, các khoản vay trung và dài hạn nhằm bổ sung cho các nguồn tiền gửi, đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường đây là khoản vay không có đảm bảo, những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách này, họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Nghiệp vụ vay mượn khá phức tạp, ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định qui mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hop.
Các vấn đẻ chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ. cũng cần được ngân hàng quan tâm. © Tiền gửi khác: Loại tiền này bao gồm nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác.