Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại - Chương 2: Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam — Chi nhanh Dak Lak - Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chỉ nhánh Đăk Lăk 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong những năm gần đây, nghiên cứu vẻ hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về nhiều đối tượng khách hàng, trong đó những nghiên cứu về đối tượng khách hàng cá nhân là một chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm, các ngân hàng thương mại hiện đang tập trung phát triển rất mạnh mảng cho vay khách hàng cá nhân vì đây là một dịch vụ mang lại lợi nhuận rất tốt cho ngân hàng, mảng cho vay tiêu dùng cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm khi có nhiều nghiên cứu tập trung vào. hoạt động cho vay tiêu dùng như: Vũ Văn Thực (2014), Trần Thị Minh Thanh (2015), Lê Thị Thúy Loan (2015), Nguyễn Đức Huy ( 2015), Biện Thị Thảo (2017), Lê Thị Thu Phương (2017). Mỗi nghiên cứu được thực hiện tại các chỉ nhánh ngân hàng cụ thể , các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận định tính để nghiên cứu, sử dụng các phương pháp cơ bản trong nghiên cứu là phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu đề phân tích và phát hiện những hạn chế trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM cũng như đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn để hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng.
Trong hoạt động cho vay tiêu dùng, các tác giả đã nhận diện ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng như: môi trường kinh tế xã hội, công nghệ, trình độ dân trí, quy trình tín dụng, con người .Trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã thấy rằng hoạt động cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng đã phát sinh các vướng mắc như: quy trình thủ tục còn rườm rà, chính sách sản phẩm còn chưa đa dạng, chưa phù hợp với thực tế, công tác kiểm tra kiểm soát còn chưa chặt chẽ. Thông qua việc phân tích thực trạng, các tác giả đã đề xuất những giải pháp mang tính thực tiễn để hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng như hoàn thiện quy trình, thủ tục; hoàn thiện danh mục sản phẩm, xây dựng chính sách lãi suất phù hợp, chú trọng công tác tuyên chọn, bồi dưỡng và quản lý cán bộ, tăng cường hoạt động quảng bá sản phẩm, tăng cường nâng cao hiệu quả công. tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động cho vay tiêu dùng, nâng cao dịch vụ chăm sóc khách hàng, mở rộng mạng lưới, kênh phân phối .đồng thời khắc phục những mặt còn yếu kém. Tuy nhiên, các đề tài trên vẫn còn nhiều khoản trống nghiên cứu chưa được giải qu L, có thể kể ra như tác giả Vũ Văn Thực (2014) mới chỉ thông qua một vài chỉ tiêu cơ bản như dư nợ cho vay, số lượng khách hàng, tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng tại Agribank nên việc phân tích chưa bao quát hết các vấn đề về cho vay tiêu dùng, kết quả nghiên cứu theo hướng chủ quan từ phía ngân hàng vì thiếu việc thu thập ý kiến khách hàng về hiệu quả trong cho.
vay tiêu dùng tại Ngân hàng, thiếu sự so sánh với các đối thủ cạnh tranh, hoặc luận văn của Trần Thị Minh Thanh (2015) chỉ phân tích thông qua dữ liệu thu thập tại chỉ nhánh ngân hàng mà chưa có sự kết hợp với khảo sát khách hàng, đang vay tiêu dùng tại chỉ nhánh ngân hàng để đánh giá mức độ đáp ứng trong cho vay tiêu dùng của chỉ nhánh ngân hàng đối với nhu cầu của khách hàng, vì vậy kết quả nghiên cứu còn mang tính chủ quan về phía ngân hàng, chưa có sự tương tác với khách hàng, tiếp đến tác giả Lê Thị Thúy Loan (2015) phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng nhưng chưa tính đến các yếu tố ảnh hưởng của môi trường kinh tế xã hội tại địa phương đến hoạt động cho vay tiêu dùng của đơn vị, hay như Nguyễn Đức Huy (2015) lại tập trung quá nhiều về giới thiệu quy trình cho vay cũng như các sản phẩm cho vay tiêu dùng đang áp dụng tại VP bank Bình Định, phân tích các nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của đơn vị mà chưa đưa ra các biện pháp để phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại VP bank Bình Định, thêm nữa trong nghiên cứu của Biện Thị Thảo (2017) lại chưa chú trọng đến các nhân tố về thị trường, nguyên nhân của các hạn chế vẫn chưa được làm rõ, các khuyến nghị vẫn còn khá chung và chưa gắn kết với kết quả phân tích, hoặc luận văn được nghiên cứu tại đơn vị có những điểm đặc thù và nghiên cứu trong giai đoạn Đông Á Bank đang bị kiểm soát đặc biệt nên các hạn chế cũng như giải pháp đề mang tính đặc thù riêng như của Lê Thị Thu Phương ( 2017). Các dé tài nghiên cứu trên đều khá gần gũi với đề tài mà tôi dang nghiên cứu nên tôi đã học hỏi được khá nhiều kinh nghiệm. Ngoài ra, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chỉ nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng” có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/03/2017 có bổ sung những điểm mới về cho vay như: cho vay tiêu dùng không cần phương án, dự án thực hiện hoạt động kinh doanh. vì vậy, việc ban hành qui định nội bộ về cho vay của ngân hàng là một yêu cấp bách.
Mặt khác, qua quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cỗ phân Công Thương Việt Nam - Chỉ Nhánh Đăk Lăk, đối với mỗi đơn vị thực tế hoạt động cho vay tiêu dùng đều có những điểm khác nhau, thực tế phát sinh cũng khác nhau nên giải pháp thực hiện cũng có những điểm khác biệt theo từng đề tai, từng không gian, thời gian nghiên cứu. Chính vi vậy trên cơ sở kế thừa những cơ sở lý luận đúng đắn trong cho vay tiêu dùng tại NHTM của các luận văn đi trước, nghiên cứu các tạp chí có liên quan, tổng hợp các dữ liệu thu thập đồng thời đưa ra những kiến nghị trong thực tiễn để hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM tôi xin trình bày luận văn: “Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam ~ Chỉ Nhánh Đăk Läk”. 10 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG CHO VAY TIEU DUNG TAI NGAN HANG THUONG MAI 1. CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân và hộ gia đình sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi theo một cách thức nhất định trong một thời gian xác định để sử dụng vào các nhu cầu phục vụ đời sống như: Mua nhà ở, xây dựng, sửa chữa nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, mua sắm thiết bị gia đình, chỉ phí chữa bệnh, chỉ tiêu cho nhu cầu giáo dục, du lịch. Đối tượng cho vay tiêu dùng Đối tượng của CVTD rất đa dạng, có thể khái quát thành các nhóm sau: Nhóm đối tượng có thu nhập thấp: Những người có thu nhập thấp thì thông thường nhu cầu vay để tiêu dùng không cao và bị giới hạn bởi thu nhập, việc vay vốn chỉ nhằm cân đối giữa thu nhập và chỉ tiêu. Nhóm đối tượng có thu nhập trung bình: Nhóm đối tượng này muốn vay để tiêu dùng hơn là dùng chính tiền tích lũy, dự phòng của mình để chỉ tiêu. Do đó, nhóm đối tượng này có nhu cầu vay vốn tăng mạnh so với nhóm đối tượng có thu nhập thấp.
Nhóm đối tượng có thu nhập cao: Nhóm đối tượng này vay tiêu dùng nhằm tăng khả năng thanh toán và coi đó như một khoản linh hoạt đề chỉ tiêu khi mà tiền tích lũy của họ chưa cao hay lợi nhuận do đầu tư mang lại chưa thu được. Đây là nhóm đối tượng có những khoản tiêu dùng lớn và thường xuyên. Do đó, các NHTM cần dùng những biện pháp thích hợp để tiếp cận và mở rộng nhóm đối tượng này. Đặc điểm cho vay tiêu dùng a.
Đặc điểm về quy mô Đối với CVTD ta có thể thấy một đặc điểm là: “Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn”. Với mục đích vay đề tiêu dùng, nên các khoản vay thường không lớn. Hơn nữa, nhu cầu của dân cư với các loại hàng hóa xa xi là không cao hoặc người vay cũng đã có một khoản tiền tích lũy trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Tuy vậy, vay tiêu dùng lại là nhu cầu vay vốn khá phô biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên mặc dù mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do số lượng các khoản vay lớn khiến cho tổng quy mô CVTD của các ngân hàng thường khá lớn.
Đặc điểm về lãi suất Không giống hầu hết các khoản cho vay SXKD hiện nay có lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cố định Khi đưa ra mức lãi suất cố định này các ngân hàng sẽ phải dự tính đến: yếu tố lãi suất huy động đầu vào (có xu hướng thay đổi như thế nào), tính đến phần bù rủi ro và chỉ phí. Tuy quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn nên tông chỉ phí lớn. Hơn nữa, CVTD còn được xem là tiềm ân rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao. Vì thế lãi suất CVTD thường cao và ôn định.
CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ Số lượng các khoản CVTD phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của dân cư và cầu có khả năng thanh toán của họ. Do đó, nó có tính nhạy cảm theo chu kỳ. Số lượng các khoản CVTD sẽ tăng lên trong thời kỳ kinh tế phát triển. Lúc này, người dân có mức thu nhập tương đối cao và ồn định, tình hình kinh tế xã hội đầy lạc quan.