chương 1 đã nêu ra được các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng. Qua phân tích thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng No&PTNT Thành phố Đà Nẵng ở chương 2, tác giả đã nêu ra được những kết quả đã được và những hạn chế cần phải khắc phục, từ đó đã đề ra các giải pháp phù hợp cho chỉ nhánh. Tuy nhiên, điểm hạn chế của đề tài trên là tác giả nêu các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho. vay tiêu dùng nhưng không tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng trên.
Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh, “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phân xuất nhập khẩu - Chỉ nhánh Đà Nẵng" của Nguyễn Thị Khuyên năm 2014. Luận văn đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về hoạt động. cho vay tiêu dùng của các NHTM, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cô phần xuất nhập khẩu - Chi nhánh Da Nẵng (Eximbank Đà Nẵng) và đề xuất giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng ở Eximbank Đà Nẵng. Trên cơ sở thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Eximbank Đà Nẵng, đề tài đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động cho vay tiêu dùng tại Eximbank Đà Nẵng: Cải thiện môi trường pháp lý và môi trường xã hội, hoàn thiện cơ cấu tô chức và nâng cao đội ngũ nhân sự, day mạnh hoạt động marketing, hoàn thiện quy trình tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng tiêu dùng.
Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Liệt - Chỉ nhánh Đà Nẵng ” của Huỳnh Thị Huyền Trang năm 2015 Luận văn đã hệ thống tương đối đầy đủ những vắn đề cơ bản trong hoạt động cho vay tiêu dùng. Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát nhu cầu cũng như trình độ của khách hàng trong hoạt động cho vay tiêu dùng. Từ đó làm cở sở phân tích hoạt động CVTD, tác giả nêu lên những kết quả đã đạt được, nhưng hạn chế tồn tại của Chi nhánh. Dựa vào kết quả phân tích, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm pháp triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chỉ nhánh.
Tuy nhiên, những giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa cụ thể. Luận văn cao học đề tài “Phân tich tình hình CVTD tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội chỉ nhánh Đăk Lăk” của tác giả Nguyễn Thi Chiến, năm 2014. Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến cho. vay tiêu dùng và phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng, trình bày ngắn gọn, súc tích và logic.
Trên cơ sở phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại NHTM cỗ phần Quân Đội chỉ nhánh Đăk Lãk, tác giả đã đưa ra các giải pháp khả thi, phù hợp thực tiễn nhằm phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại đơn vị. Tuy nhiên đề tài được nghiên cứu ở một đơn vị khác với nhiều đặc điểm đặc thù khác biệt như địa bàn, nguồn lực và điều kiện phát triển khác nhau. Các luận văn trên đây giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về cho vay tiêu dùng, phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM. Những đề tài này khá gần với đề tài mà học viên đang nghiên cứu do đó những cơ sở lý luận chính về phát triển cho vay tiêu dùng là nền tảng để học viên tham khảo, xây dựng cơ sở lý luận phù hợp với nội dung phân tích tình hình cho vay tiêu dùng tại Agribank chỉ nhánh Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng.
Tuy có một số nghiên cứu mà luận văn có thể kế thừa, tiếp thu nhưng do tiếp cận đề tài bằng một cách khác nên luận văn sẽ có những phát triển mới. CHUONG 1 PHÂN TÍCH HOAT DONG CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. CHO VAY TIEU DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng, Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính của nền kinh tế, là cầu nối giữa các chủ thể tạm thời thừa vốn và các chủ thể thiếu vốn thông qua hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay.
Hoạt động cho vay của được hiểu là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (người cho vay) sang người sử dụng (người đi vay) sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Với tư cách là người cho vay Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng của mình - người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhất định, những điều kiện này là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn (gốc và lãi) sau một thời gian nhất định. Trên cơ sở định nghĩa về cho vay ta có thể đưa ra một khái niệm Cho. vay tiêu dùng (CVTD) của NHTM như sau: Cho vay tiêu dùng là một hình thức cho vay, qua đó Ngân hàng chuyển cho người đi vay (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp; thời gian cấp; lãi suất phải trả .) nhằm giúp cho người đi vay đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng trong đời sống hằng ngày trước khi họ có khả năng chỉ trả, tạo điều kiện cho họ có thẻ hưởng một cuộc sống cao hơn.
Những nhu cầu tiêu dùng, có thể là mua nhà, xây sửa nhà, phương tiện đi lại, tiện nghỉ sinh hoạt hay những chỉ tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch. Khác với vay kinh doanh ở đây người đi vay sử dụng tiền vay vào các mục đích tiêu dùng cá nhân phục vụ nhu cầu sinh hoạt thường nhật chứ không vì mục đích lợi nhuận, nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay 1. Đặc điểm và vai trò của cho vay tiêu dùng a. Đặc điểm Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn: So với cho.
vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cá nhân đều ở mức vừa phải, nhu cầu của người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa xa xỉ không lớn; hoặc vì đa số người tiêu dùng đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân này. Mặt khác, cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao nên Ngân hàng cũng thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, thường. căn cứ vào giá trị tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ của khách hàng.
Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi gia đình, mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Hơn nữa khi chất lượng cuộc sống được nâng lên thì người dân càng có nhu cầu vay vốn tiêu dùng đề cải thiện đời sống nhiều hơn. Do đó nền kinh tế càng phát triển thì cho vay tiêu dùng càng nhiều. Thứ hai, cho vay tiêu dùng có chỉ phí lớn nhất trong danh mục sản phẩm tín dụng của ngân hàng: Mặc dù quy mô của mỗi khoản vay thường.
nhỏ nhưng ngân hàng vẫn phải thực hiện rất đầy đủ các bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Thêm vào đó, số lượng các khoản vay lại rất lớn và Ngân hàng gặp không ít khó khăn trong quản lý các khoản vay tiêu dùng do thông tin về tình hình tài chính không rõ ràng, công khai minh bạch. Vì vậy với những nguyên nhân trên nên dẫn đến chỉ phí cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với các loại hình cho vay khác của Ngân hàng Thương mại. Thứ ba, các khoản cho vay tiêu dùng có mức lãi suất cho vay chưa linh hoại: Các khoản CVTD thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng món vay lại nh , dẫn đến chỉ phí cho mỗi món vay cao, hơn nữa CVTD thường có rủi ro cao hơn so với các hình thức cho vay khác.
Bên cạnh đó, khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng cũng thường cao hơn và cứng nhắc hơn so với lãi suất của các loại hình cho vay khác. Thứ tư, cho vay tiêu dùng có mức độ rủi ro cao: Vì đối tượng của hình thức cho vay này là các hộ gia đình, cá nhân và việc thu thập thông tin về đối tượng này gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu là do các thông tin của đối tượng này chủ yếu do chính họ chủ động cung cấp với ngân hàng và việc kiểm tra tín chính xác của thông tin thường khó khăn vì không có hệ thống giám xác kiểm tra như đối với doanh nghiệp.
Mục đích sử dụng vốn vay lại khá đa dạng nên khó kiểm soát tính đúng đắn trong việc sử dụng vốn vay. Nguồn trả nợ chủ yếu từ lương, kinh doanh và các khoản thu nhập định kỳ hàng tháng khác hoặc thu nhập của cá nhân khác. Trước những biến động của chu kỳ kinh tế, nguồn trả nợ này của cũng có khả năng chống đỡ kém hơn so với doanh nghiệp, Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế phát triển, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay Ngân hàng nhiều hơn cho mục đích trang trải cuộc sống và khi nền kinh tế quy thoái, tình trạng, thất nghiệp gia tăng thì họ sẽ hạn chế vay Ngân hàng.
Thứ năm, cho vay tiêu dùng có khả năng sinh lời cao: Bởi vì cho vay tiêu dùng có những đặc điểm như chỉ phí cho mỗi khoản vay cao và mức độ rủi ro mỗi khoản vay cũng khá cao vì vậy để bù đắp cho chỉ phí cũng như 10 mức độ rủi ro và đảm bảo lợi nhuận của Ngân hàng, các Ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cho vay tiêu dùng cao hơn so với các loại hình cho vay khác.