Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại NHTM. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chỉ nhánh Đăk Lăk. Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chỉ nhánh Đăk Lãk 13 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG CHO VAY NGAN HAN KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. HOAT DONG CHO VAY NGAN HAN KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.
Khai niệm, phân loại, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp a. Khái niệm doanh nghiệp Là tô chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch én định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại doanh nghiệp Tùy theo tiêu thức phân loại doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể được chia làm nhiều loại khác nhau : - Căn cứ vào hình thức sở hữu (Tính chất sở hữu của những vốn và tài sản được sử dụng để thành lập doanh nghiệp — Sở hữu vốn) người ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại như sau : + Doanh nghiệp nhà nước : là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phần, vốn góp chỉ phối được tô chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cỗ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. + Doanh nghiệp tư nhân : Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Căn cứ vào dấu hiệu về phương thức đầu tư vốn có thể chia doanh nghiệp thành các loại như sau : + Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước : là công ty thuộc sở hữu của. 14 nhà đầu tư trong nước, do các nhà đầu tư trong nước thành lập đứng ra quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. + Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) : là công ty thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự đứng ra quản lý và tự chịu trách nhiệm về t quả kinh doanh + Doanh nghiệp một chủ: Là doanh nghiệp do một chủ đầu tư vốn để thành lập + Doanh nghiệp nhiều chủ: Là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các thành viên thể qua việc cùng nhau góp vốn thành lập doanh nghiệp - Căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản, Doanh nghiệp được chia thành các loại như sau : + Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn : là doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. + Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn: là doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình.
Dac diém của doanh nghiệp Với cách thức hoạt động và triển khai doanh nghiệp có các đặc điểm Sau: ~ Doanh nghiệp có chức năng sản xuất và kinh doanh, hai chức năng này liên hệ hết sức chặt chẽ với nhau và tạo thành chu trình khép kín trong. hoạt động của doanh nghiệp. ~ Doanh nghiệp có mục tiêu kinh tế cơ bản là lợi nhuận tối đa muốn đạt được điều đó doanh nghiệp phải tìm cách thoả man nhu cầu người tiêu dùng 15 ngày càng tốt hơn. ~ Doanh nghiệp làm ăn kinh doanh trong cơ chế thị trường, chấp nhận cạnh tranh tồn tại và phát triển.
Muốn làm được điều đó phải chú ý đến chiến lược kinh doanh thích ứng với điều kiện và hoàn cảnh trong từng giai đoạn. Vai trò của doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể đặc biệt quan trọng của nên kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), chiếm vai trò rất lớn, cụ thể như sau : - Giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động : Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động. Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dich co cau lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp. ~ Doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển là yếu tố quyết định đến tăng, trưởng cao và ôn định của nền kinh tế những năm qua : Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khâu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ồn định và phát triển những năm qua.
- Doanh nghiệp phát triển tác động đến chuyền dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân và trong nội bộ mỗi ngành : Các loại hình kinh tế trong doanh nghiệp phát triển đa dạng gồm nhiều thành phần, trong đó doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, các loại hình doanh nghiệp tư nhân tuy còn nhỏ nhưng phát triển nhanh và rộng khắp ở các ngành và các địa phương trong cả nước, loại hình kinh tế tập thể 16 đang được khôi phục và có bước phát triển mới. - Doanh nghiệp phát triển nhanh trong tắt cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. ~ Phát triển doanh nghiệp tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội : Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, góp phần nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu. Nhiều sản phẩm trước đây thường phải nhập khẩu cho tiêu dùng thì nay đã được các doanh nghiệp sản xuất thay thế và được người tiêu dùng trong nước tín nhiệm như: Ô tô, xe máy, phương tiện vận tải, các mặt hàng đồ điện, điện tử, may mặc, thực phẩm, đồ uống, hoá mỹ phẩm, đồ dùng gia đình, sản phẩm phục vụ xây dựng.
Doanh nghiệp là khu vực chủ yếu tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ so ha tang, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo.2 Cho vay ngắn hạn khách hàng doanh nghiệp của Ngân hàng thương mại. Khái niệm cho vay ngắn hạn Cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp là khoản vay có thời hạn vay đến 12 tháng, chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt, trong đó chủ 17 yếu là vốn cho hàng tồn kho và khoản phải thu. Phân loại cho vay ngắn hạn doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hoạt động cho vay ngắn hạn doanh nghiệp của NHTM rất đa dạng và phong phú với nhiều loại hình tín dụng khác nhau 'Việc áp dụng hình thức cho vay nào là tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế của đối tượng sử dụng vốn tín dụng nhằm sử dụng và quản lý vốn tín dụng có hiệu quả và phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế khác nhau của đối tượng tín dụng. Trên thực tế việc phân loại cho vay tủy theo mục đích sử dụng vốn vay: - Cho vay mua hàng dữ trữ đẻ tài trợ hàng tồn kho như nguyên liệu, bán thành phẩm, hàng hóa.
Đây là loại hình cho vay chủ yếu của các NHTM, có đặc điểm là cho vay từng lần theo từng đi ong cu thé; ky hạn nợ bắt đầu từ lúc doanh nghiệp bỏ tiền để mua hàng, chấm dứt khi hàng tồn kho đã tiêu thụ, thu được tiền;áp dụng phương thức cho vay ứng trước; thời hạn cho vay gắn với chu kỳ ngân quỳ. - Cho vay vốn lưu động nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động. thiếu hụt của doanh nghiệp trong suốt quá trình SXKD, có đặc điểm: đối tượng. cho vay gồm toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt; hạn mức tín dụng là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải ngân, xác định dựa vào mục đích sử dụng vốn vay và dòng tiền của doanh nghiệp, chỉ phí của khoản vay bao gồm cả chỉ phí và lãi trả, chỉ phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức tín dụng.
- Cho vay dựa trên tài sản lưu động: Là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các khoản phải thu, hàng tồn kho nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hóa. Đối với các khoản phải thu, hoạt động cho vay thông qua nghiệp vụ chiết khấu hoặc mua nợ. - Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: áp dụng đối với doanh nghiệp ở trong lĩnh vực xây lắp. Cơ sở để xem xét cho vay căn cứ hợp đồng 18 nhận thầu; đối tượng vay là tiền thuê công nhân, thiết bị, mua vật tư, nguyên liệu để thực hiện thi công theo công trình nhận thầu; kỳ hạn nợ được xác định theo kế hoạch thi công công trình; nguồn thu nợ từ tiền thanh toán của chủ đầu tư.
- Cho vay kinh doanh chứng khoán: Là loại cho vay đối với các công ty chứng khoán, các nhà đầu tư không chuyên nghiệp. Thời hạn cho vay từ khi mua chứng khoán mới đến khi bán chứng khoán đó cho khách hàng. vay này có thời hạn rất ngắn, có thể được bảo đảm bằng chính các chứng khoán mua vào. - Cho vay kinh doanh bán lẻ: Là loại cho vay để thanh toán tiền mua hàng đối với các doanh nghiệp bán lẻ hàng tiêu dung.