CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHO VAY TÁI CANH CÀ PHÊ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOAT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái niệm và đặc điểm tín dụng ngân hàng thương mại a. Khái niệm Tín dụng chính là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác, giá trị cho vay có thể dưới hình thức tiền tệ hay.
hình thái vật chất, sự chuyển giao được xác định có thời hạn nhất định và khi lượng giá trị được hoàn trả cho người chủ sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm, gọi là lợi tức tín dụng. Tín dụng được cung ứng bởi các chủ thể cho vay khác nhau, với các tổ chức tín dụng được được cung cấp bởi các NHTM nhà nước, NHTM cỗ phần, quỹ tín dụng, công ty tài chính được hiểu là tín dụng chính thức hay tín dụng ngân hàng [22]. “Theo Luật các TCTD 2010, cấp tín dụng là việc thỏa thuận đề tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cắp tín dụng khác. Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian lớn nhất trong.
nên kinh tế, mạng lưới rộng khắp. Ngân hàng có các hình thức cấp tín dụng đa dạng và phong phú, không hạn chế về mặt thời gian và quy mô tín dụng, có thể thỏa mãn nhu cầu của tất cả các chủ thể có nhu cầu về vốn. Do đó, hoạt động ngân hàng ngày càng đa dạng về các loại hình dịch vụ, ngoài hoạt động cấp tín dụng cho vay thì ngân hàng còn có nhiều hoạt động cấp 19 tin dung khác như: Chiết khất , tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác, Bảo lãnh ngân hàng, Phát hành thẻ tín dụng, Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế, và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận [14] Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, học viên tập trung tìm hiểu tín dụng ngân hàng dưới khía cạnh hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại là chủ yếu. Đặc điểm tin dụng ngân hàng - Tin dung ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin: Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng trả nợ (gốc, lãi) đúng hạn ~ Tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn: Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động.
Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ồn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốn không 6n định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặc khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng sẽ không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho.
khách hàng. Ngược lại, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ân rủi ro cho ngân hàng. 20 - Tin dung phai trén nguyén tac 14 hoan tra ca géc va lai: Gi tri hoan trả khi đến hạn phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, phần lớn hơn ấy chính là giá trị của quyền sử dụng vốn vay hay còn gọi là lãi vay. Khoản lãi này được ngân hàng sử dụng để bù đắp các chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận kinh doanh.
Tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình cho vay và vay diễn ra trên căn cứ pháp lý chặt chẽ, trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho. ngân hàng khi đến hạn ~ Tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng: Việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thiên tai. Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đồi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dung [6, tr.
Hoạt động cho vay của NHTM a. Khái niệm Theo Luật các TCTD 2010, cho vay là hình thức cắp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi [14]. b, Phân loại hoạt động cho vay' (i) Can cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 (một) năm. - Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm.
21 - Cho vay dai han là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) nam [8]. (ii) Căn cứ vào mục đích cho vay ~ Hoạt động cho vay phục vụ hoạt động kinh doanh; - Hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu đời sống. (iii) Căn cứ vào phương thức cho vay: NHTM thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay như sau: - Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. - Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng đề thực hiện một phương án, dự án vay vốn.
- Cho vay lưu vụ: Là việc tổ chức tín dụng thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm. Theo đó, tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. - Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng. thời gian nhát định.
Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng thực hiện cho. vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, tỗ chức tín dụng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này. ~ Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời 22 hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm. - Cho vay theo hạn mức thấu chỉ trên tài khoản thanh toán: Tổ chức. tín dụng chấp thuận cho khách hàng chỉ vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chỉ tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Mức thấu chỉ tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm.
- Cho vay quay vòng: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp. dụng cho vay đối với nhu cầu vốn có chu kỳ hoạt động kinh doanh không. quá 01 (một) tháng, khách hàng được sử dụng dư nợ gốc của chu kỳ hoạt động kinh doanh trước cho chu kỳ kinh doanh tiếp theo nhưng thời hạn cho vay không vượt quá 03 (ba) tháng. - Cho vay tuan hoan (rollover): Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận áp dụng cho vay ngắn hạn đối với khách hàng với điều kiện: + Đến thời hạn trả nợ, khách hàng có quyền trả nợ hoặc kéo dài thời hạn trả nợ thêm một khoảng thời gian nhất định đối với một phần hoặc toàn bộ số dư nợ gốc của khoản vay; + Tổng thời hạn vay vốn không vượt quá 12 tháng kể từ ngày giải ngân ban đầu và không vượt quá một chu kỳ hoạt động kinh doanh; + Tại thời điểm xem xét cho vay, khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng; + Trong quá trình cho vay tuần hoàn, nếu khách hàng có nợ xấu tại các tô chức tín dụng thì không được thực hiện kéo dài thời hạn trả nợ theo thỏa thuận [8].
(v) Căn cứ vào việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: + Cho vay có áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay: là việc cho vay vốn của TCTD mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ 23 vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng của bên thứ ba. Việc thỏa thuận về biện pháp bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng với khách hang phủ hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm và pháp luật có liên quan. + Cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cằm cố hoặc không cần sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cho vay dựa trên uy tín của khách hàng mà không cân có sự bảo đảm về nguồn thu nợ bổ sung.
Theo quy định hiện hành, TCTD quyết định và chịu trách nhiệm về việc cho vay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.