Chương 1: Giới thiệu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây - Chương 3: Các giả thuyết và mô hình - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp Theo khái niệm của ICAEW – Viện Kế toán Công Chứng Vương quốc Anh và xứ Wales, quản trị doanh nghiệp là một hệ thống mà theo đó một doanh nghiệp được quản trị và kiểm soát. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm đối với quản trị công ty.
Vai trò của cổ đông trong quản trị công ty là bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên và đảm bảo việc áp dụng một cấu trúc quản trị doanh nghiệp phù hợp. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị bao gồm thiết lập mục tiêu chiến lược của công ty, lãnh đạo để các mục tiêu đó được thực hiện, giám sát việc quản lý kinh doanh và báo cáo cho các cổ đông. Do đó, quản trị doanh nghiệp là tất cả những gì mà Hội đồng quản trị của một công ty làm và cách thức mà họ xây dựng giá trị của công ty đó, nó được phân biệt với hoạt động quản lý hàng ngày của Ban giám đốc. Đối với các công ty niêm yết ở Anh, quản trị doanh nghiệp là một phần của hệ thống luật pháp có tên là Các Quy Tắc Quản Trị Doanh Nghiệp Anh (the UK Corporate Governance Code) áp dụng cho kỳ kế toán bắt đầu từ và sau 29 tháng 6 năm 2010 và từ đó một Quy Chế Niêm Yết (Listing Regime) mới cũng được giới thiệu vào tháng 4 năm 2010, áp dụng cho tất cả các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán London – Premium Listing không phân biệt những công ty này được thành lập ở Anh hay ở nơi khác.
Quản trị doanh nghiệp cũng có tác dụng đến các công ty không niêm yết bởi vì về cơ bản thì nó cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Một trong những phát triển thú vị trong những năm gần đây là cách mà cái tên: quản trị “doanh nghiệp” được sử dụng để đề cập đến các vấn đề về quản trị và trách nhiệm giải trình vượt ra khỏi phạm vi doanh nghiệp. Điều này có thể gây nhầm lẫn vì Quản Trị Doanh Nghiệp Anh (UK Corporate Governance) đã được xây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 dựng và phát triển để giải quyết vấn đề về quản trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết và không được thiết kế để bao quát hết tất cả các loại hình tổ chức có cấu trúc trách nhiệm giải trình khác nhau. Nhiều nghiên cứu khoa học kết luận rằng những công ty được quản trị hiệu quả thì sẽ có kết quả kinh doanh tốt hơn.
Theo bài nghiên cứu của Lê Minh Toàn (nghiên cứu sinh) và Gordon Walker (giáo sư) trường đại học Luật La Trobe - Australia, quản trị doanh nghiệp là cấu trúc và quy trình cho định hướng và việc kiểm soát của một công ty. Quản trị doanh nghiệp xác định vai trò của Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, cổ đông kiểm soát, cổ đông thiểu số và các bên liên quan khác. Quản trị doanh nghiệp hiệu quả sẽ nâng cao hoạt động của công ty, tăng khả năng huy động các nguồn vốn bên ngoài và đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững. Đối với những quốc gia phát triển, việc nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp có thể đáp ứng được rất nhiều mục tiêu chính sách xã hội quan trọng.
Quản trị doanh nghiệp tốt làm giảm độ nhạy cảm của thị trường mới nổi đối với khủng hoảng tài chính, giảm chi phí giao dịch và chi phí sử dụng vốn và phát triển thị trường vốn. Ngược lại, quản trị doanh nghiệp kém làm giảm tự tin của nhà đầu tư và hạn chế đầu tư bên ngoài. Ngoài ra, các quỹ lương hưu tiếp tục đầu tư nhiều hơn vào thị trường vốn, quản trị doanh nghiệp tốt là cấp thiết để bảo vệ nguồn tiết kiệm hưu trí. Tầm quan trọng của quản trị doanh nghiệp đã được lưu ý tại nhiều quốc gia và tổ chức.
Cụ thể như OECD, với những thành viên và các quỹ đầu tư từ các quốc gia có nền kinh tế thị trường, đã phát triển những nguyên tắc quản trị doanh nghiệp có tính ứng dụng quốc tế tốt nhất. Các Nguyên Tắc Quản Trị Doanh Nghiệp OECD (Các nguyên tắc OECD) được xuất bản đầu tiên vào năm 1999 (OECD 1999) và được cập nhật vào năm 2004 (OECD 2004) bổ sung một quy tắc mới mở rộng hơn phạm vi của quản trị doanh nghiệp sang cách nhìn của hiệu quả công việc. Một bài nhận xét về những quy tắc này bắt đầu vào năm 2014 và sau đó những quy tắc được cập nhật ra đời vào tháng 9 năm 2015, có tên Các Nguyên Tắc Quản Trị Doanh Nghiệp OECD/G20 (OECD 2015). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Theo CPA Australia – một tổ chức nghề nghiệp của Australia thì Các Nguyên Tắc OECD là quy tắc chung và dựa trên nguyên tắc (principles based).
Các Nguyên Tắc OECD là “những hướng dẫn mang tính ứng dụng” và không phải viết riêng cho các công ty hoặc cho các thành viên Hội đồng quản trị. Các nguyên tắc này được viết ra để các chính phủ có thể ứng dụng vào luật pháp của từng quốc gia bằng những hướng dẫn phù hợp. Chúng cũng có giá trị trong việc đảm bảo các hướng dẫn về quản trị doanh nghiệp được phát triển bởi nhiều quốc gia khác nhau thống nhất với Các Nguyên Tắc OECD. Các Nguyên Tắc OECD có thể được sử dụng như là một khung hướng dẫn cho tổ chức tìm kiếm lợi nhuận và các tổ chức phi lợi nhuận.
Các Nguyên Tắc OECD có 6 nguyên tắc: 1. Đảm bảo nguyên tắc của một khung quản trị doanh nghiệp hiệu quả; 2. Đảm bảo quyền lợi và đối xử công bằng giữa các cổ đông và các chức năng chính của chủ sở hữu; 3. Các nhà đầu tư tổ chức, thị trường chứng khoán và các tổ chức tài chính trung gian khác; 4.
Vai trò của các bên liên quan trong quản trị doanh nghiệp; 5. Công bố và tính minh bạch; và 6. Trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Mối quan hệ giữa bất cân xứng thông tin và tính thanh khoản cổ phiếu Theo các nhà kinh tế học, bất cân xứng thông tin có thể xảy ra khi các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên dẫn tới trả giá thấp hơn giá trị thực của hàng hóa.
Hậu quả là người bán không còn động lực để sản xuất hàng hóa có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm trung bình trên thị trường. Bất cân xứng thông tin là một thất bại của thị trường và nó làm giảm mức độ tự tin của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, từ đó làm giảm mức độ thanh khoản như sự biến động tỷ suất sinh lợi, khối lượng giao dịch. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mối quan hệ giữa quản trị công ty và bất cân xứng thông tin Các lý thuyết liên quan chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị công ty và bất cân xứng thông tin: lý thuyết đại diện (agency theory), lý thuyết quản lý (theory of entrenchment) và lý thuyết quản lý (theory of stewardship).
- Lý thuyết đại diện (agency theory) Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976. Lý thuyết đại diện nhìn nhận quản trị doanh nghiệp thông qua mối quan hệ giữa các những người đại diện - nhà quản lý (agents) và những chủ thể - cổ đông (principals). Lý thuyết đại diện nói chung bao gồm việc trao quyền lực cho các cá nhân hoặc các nhóm để hành động đại diện cho những người khác. Những người đại diện được phép hành động và ra quyết định thay mặt cho những chủ thể và tuân thủ theo những điều khoản quy định của việc giao quyền và các nguyên tắc khi thực thi quyền đã được giao đó.
Trong khi những đại diện được kì vọng là sẽ hành động thay mặt cho chủ thể, nguyên tắc đại diện cho rằng người đại diện có thể không hành động vì quyền lợi tốt nhất của chủ thể. Giả định cơ bản của lý thuyết đại diện là tất cả các bên đều là những người lý trí hành động vì mục đích tối đa hóa lợi ích của bản thân, điều này có nghĩa là những người đại diện có thể theo đuổi những mục tiêu khác với mục tiêu của chủ thể. Do đó, mâu thuẫn tiềm tàng có thể nảy sinh và những công cụ như quản trị doanh nghiệp phải được thực hiện để đảm bảo rằng những người đại diện sẽ hành động một cách phù hợp. Những người đại diện do đó phải hiểu biết hết về các khái niệm và các nguyên tắc của việc quản trị hiệu quả và phải tuân thủ các điều khoản quy định của việc giao quyền và các nguyên tắc khi thực thi quyền đã được giao đó.
Jensen và Meckling định nghĩa về lý thuyết đại diện và vấn đề trung tâm của nó như sau: “Một mối quan hệ đại diện được định nghĩa như là một hợp đồng mà theo đó một hoặc nhiều người (chủ thể) ủy quyền cho người khác (người đại diện) thay mặt họ thực hiện một số nhiệm vụ, trong đó bao gồm trao cho người đại diện một số quyền ra quyết định. Nếu cả hai bên đều là những người tối đa hóa lợi ích cá nhân thì có lý TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 do thích đáng để tin rằng người đại diện sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất của chủ thể” (Jensen và Meckling 1976, trang 308) Hai giả định cơ bản quan trọng của lý thuyết đại diện: 1. Tất cả các cá nhân đều hành động vì lợi ích của bản thân mình. Do đó, tồn tại mâu thuẫn lợi ích tiềm tàng giữa chủ thể và người đại diện, những người đại diện có xu hướng hành động theo cách tối đa hóa lợi ích của họ trước 2.
Những người đại diện là người có quyền lực vì họ nắm và kiểm soát thông tin tốt hơn và có khả năng ra quyết định. Điều này giúp họ có được lợi ích cá nhân xa hơn. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để gắn kết lợi ích của chủ thể và của người đại diện với nhau, từ đó điều chỉnh hành động vì lợi ích cá nhân và thiếu cung cấp thông tin của những người đại diện để làm giảm chi phí đại diện.