Tổng quan nghiên cứu

Quản trị rủi ro tín dụng trong các định chế tài chính công địa phương đóng vai trò quyết định đến sự an toàn ngân sách và sự phát triển kinh tế bền vững. Tại tỉnh Ninh Bình, Quỹ Đầu tư phát triển Ninh Bình (NBDIF) được thành lập theo Quyết định số 2782/QĐ-UB với nhiệm vụ cung ứng nguồn vốn mồi phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Mặc dù được phê duyệt mức vốn điều lệ 500 tỷ đồng theo Quyết định số 563/QĐ-UBND, tính đến ngày 31/12/2018, tổng vốn điều lệ thực tế của Quỹ mới đạt 203 tỷ đồng. Khoảng cách nguồn vốn này tạo ra áp lực quản trị lớn khi Quỹ phải tài trợ cho các dự án dài hạn với chu kỳ thu hồi vốn lên đến 15 năm, trong khi giới hạn cấp tín dụng cho một dự án không được vượt quá 20% vốn chủ sở hữu và tổng mức dư nợ cho một khách hàng bị khống chế ở mức 25% vốn chủ sở hữu.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, phân tích và đo lường các loại hình rủi ro tín dụng phát sinh trong hoạt động cho vay đầu tư tại NBDIF giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành đánh giá thực trạng quy trình kiểm soát rủi ro, thẩm định tài sản bảo đảm và xử lý nợ quá hạn nhằm đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro đến năm 2025. Về mặt thực tiễn, công trình nghiên cứu mang lại ý nghĩa sâu sắc khi xác lập mô hình quản trị an ninh tài chính theo phương trình an ninh phi truyền thống, giúp bảo toàn vốn Nhà nước ngoài ngân sách, tối ưu hóa chi phí vận hành và nâng cao chỉ số an toàn vốn trong môi trường kinh tế biến động.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống lý thuyết quản trị rủi ro tín dụng hiện đại kết hợp với khung lý thuyết quản trị an ninh phi truyền thống (MNS). Căn cứ theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng được xác định là tổn thất tiềm tàng phát sinh khi khách hàng không thực hiện hoặc mất khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Để lượng hóa và kiểm soát rủi ro, nghiên cứu ứng dụng ba mô hình phân tích nền tảng:

Thứ nhất, mô hình điểm số Z của Altman (Z-score) sử dụng 5 chỉ số tài chính cơ bản gồm tỷ số vốn lưu động trên tổng tài sản (X1), tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản (X2), tỷ số EBIT trên tổng tài sản (X3), giá trị thị trường vốn chủ sở hữu trên nợ phải trả (X4) và tỷ số vòng quay tổng tài sản (X5). Mô hình cung cấp các ngưỡng điểm chuẩn xác để phân loại khách hàng vào vùng an toàn (Z > 2.99), vùng cảnh báo (1.81 <= Z <= 2.99) hoặc vùng nguy hiểm (Z < 1.81).

Thứ hai, mô hình tổn thất dự kiến (Expected Loss Model) xác định mức độ thiệt hại qua công thức EL = PD x EAD x LGD, trong đó PD là xác suất khách hàng vỡ nợ dựa trên dữ liệu quá khứ 5 năm, EAD là tổng dư nợ tại thời điểm rủi ro, và LGD là tỷ trọng tổn thất thực tế sau khi xử lý tài sản bảo đảm.

Thứ ba, quy tắc định tính 6C bao gồm Character (Uy tín), Capacity (Năng lực pháp lý và tài chính), Capital (Cấu trúc vốn), Collateral (Tài sản bảo đảm), Conditions (Môi trường kinh doanh) và Control (Mức độ kiểm soát pháp lý).

Đặc biệt, nghiên cứu phát triển phương trình an ninh trong cho vay đầu tư: An ninh = (An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững) - (Chi phí quản trị rủi ro + Chi phí quản lý khủng hoảng + Chi phí khắc phục hậu quả). Khung lý thuyết này giúp định chế tài chính xác định rõ mối tương quan giữa việc cắt giảm tổn thất và chi phí duy trì hệ thống kiểm soát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập trực tiếp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thống kê hoạt động kinh doanh của NBDIF trong giai đoạn 2016 - 2018, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 138/2007/NĐ-CP, Nghị định số 37/2013/NĐ-CP và Nghị quyết số 42/2017/QH14. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua phương pháp khảo sát toàn diện đối với toàn bộ 32 cán bộ, nhân viên thuộc 5 phòng nghiệp vụ của Quỹ và các thành viên Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát.

Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng do quy mô nhân sự tinh gọn và tính đặc thù chuyên sâu của định chế tài chính công địa phương. Phương pháp phân tích tài chính kết hợp so sánh định lượng được lựa chọn nhằm bóc tách biến động của các chỉ tiêu trọng yếu: tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ xấu nhóm 3 đến nhóm 5, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro và cơ cấu doanh thu. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép nhận diện chính xác các lỗ hổng trong khâu thẩm định dự án, định giá tài sản bảo đảm và đánh giá mức độ suy giảm an ninh tài chính của Quỹ qua từng năm tài khóa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển Ninh Bình giai đoạn 2016 - 2018 đã chỉ ra nhiều biến động lớn trong cấu trúc tài chính và công tác kiểm soát rủi ro:

Thứ nhất, kết quả hoạt động nghiệp vụ có sự tăng trưởng đột biến nhưng thiếu tính ổn định lâu dài. Doanh thu của Quỹ năm 2017 đạt 60.639 triệu đồng, tăng gấp 4,1 lần so với mức 14.524 triệu đồng của năm 2016 (đạt 134,36% kế hoạch năm). Tuy nhiên, đến năm 2018, tổng doanh thu sụt giảm xuống còn 75,1% so với năm 2017. Nguyên nhân chính là do nguồn thu từ hoạt động đầu tư trực tiếp sụt giảm mạnh 17.331,6 triệu đồng trong năm 2018, làm ảnh hưởng tiêu cực đến tổng thu nhập chung của định chế.

Thứ hai, cơ cấu doanh thu và chi phí có sự dịch chuyển rõ rệt. Năm 2016, doanh thu từ lĩnh vực cho vay đầu tư chiếm tỷ trọng áp đảo với 66,05% tổng doanh thu, trong khi đầu tư trực tiếp chỉ chiếm 8,1%. Đến giai đoạn 2017 - 2018, tỷ trọng doanh thu đầu tư trực tiếp vọt lên chiếm gần 70% (năm 2017 đạt 76,18% và năm 2018 đạt 69,86%), còn mảng cho vay đầu tư giảm sâu xuống mức 16,19% năm 2017 trước khi phục hồi nhẹ lên 22,49% năm 2018. Song song đó, chi phí quản lý Quỹ được tối ưu hóa mạnh mẽ, giảm từ mức 83,3% tổng chi phí năm 2016 xuống còn 15,53% năm 2017 và 25% năm 2018.

Thứ ba, công tác trích lập dự phòng và quản lý nợ có nhiều chuyển biến tích cực nhưng tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Chi phí dự phòng rủi ro cho vay năm 2017 chiếm 9,02% cơ cấu chi phí, và sang năm 2018 Quỹ đã thực hiện hoàn nhập dự phòng trích lập rủi ro. Tuy nhiên, quy mô vốn điều lệ thực tế 203 tỷ đồng chỉ đạt 40,6% so với mục tiêu 500 tỷ đồng, tạo rào cản lớn khi triển khai các gói tín dụng vượt hạn mức 40,6 tỷ đồng cho các dự án kết cấu hạ tầng quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh sự đan xen giữa nguyên nhân khách quan và chủ quan trong công tác quản trị rủi ro. Về mặt khách quan, các dự án vay vốn kết cấu hạ tầng tại Ninh Bình thường có thời gian thu hồi vốn kéo dài đến 15 năm, biên lợi nhuận thấp và chịu tác động trực tiếp từ biến động chu kỳ kinh tế, chính sách thuế và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Việc áp dụng Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu gặp nhiều trở ngại trên thực tế do thiếu cơ chế phối hợp cưỡng chế thu giữ tài sản bảo đảm và các quy định hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP về thủ tục rút gọn tại Tòa án còn phức tạp.

Về mặt chủ quan, hệ thống thông tin tín dụng nội bộ của NBDIF chưa được kết nối đồng bộ và liên tục với Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC), dẫn đến việc khó kiểm soát giới hạn đòn bẩy tài chính của các chủ đầu tư. Khi so sánh với mô hình tại Quỹ Đầu tư phát triển Khánh Hòa hay các chi nhánh ngân hàng thương mại lớn, NBDIF còn thiếu bộ phận quản trị rủi ro độc lập chuyên trách, dẫn đến tình trạng cán bộ thẩm định phải kiêm nhiệm nhiều khâu trong quy trình giải ngân.

Toàn bộ các biến động về doanh thu, chi phí và cơ cấu nhóm nợ có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng phân tích cấu trúc doanh thu ba năm 2016 - 2018 và bảng tổng hợp ma trận phân loại nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5. Việc biểu diễn này giúp ban điều hành nhận diện trực quan điểm giao thoa giữa chi phí quản trị rủi ro và mức độ an toàn vốn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro cho vay đầu tư tại NBDIF trong giai đoạn 2021 - 2025:

Thứ nhất, tái cấu trúc quy trình thẩm định và phê duyệt tín dụng theo chuẩn mực quốc tế. Ban Giám đốc và Phòng Kế hoạch - Thẩm định NBDIF cần chuẩn hóa bộ công cụ chấm điểm Z-score kết hợp ma trận 6C cho 100% hồ sơ vay vốn mới. Động từ hành động then chốt là ban hành quy chế phân tầng phê duyệt khoản vay, thiết lập giới hạn cho vay tối đa không quá 20% vốn chủ sở hữu cho một dự án và kiểm soát chặt chẽ danh mục tài sản bảo đảm, mục tiêu duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 2,0% trong suốt lộ trình 2021 - 2025.

Thứ hai, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình và Hội đồng nhân dân tỉnh hoàn thiện cấp đủ vốn điều lệ cho Quỹ đạt mức 500 tỷ đồng trong giai đoạn 2021 - 2025. Việc tăng quy mô vốn tự có sẽ nâng hạn mức cấp tín dụng tối đa cho một dự án lên mức 100 tỷ đồng, tạo điều kiện tài trợ nguồn vốn mồi cho các công trình hạ tầng khu công nghiệp, cấp thoát nước và du lịch trọng điểm của tỉnh.

Thứ ba, thiết lập hệ thống cảnh báo sớm và đa dạng hóa phương thức phân tán rủi ro. Phòng Tín dụng - Ủy thác NBDIF cần chủ động phối hợp với CIC để cập nhật lịch sử tín dụng của khách hàng theo chu kỳ 30 ngày một lần. Đồng thời, Quỹ cần đẩy mạnh liên kết với các ngân hàng thương mại trên địa bàn để thực hiện cho vay hợp vốn, áp dụng các công cụ bảo lãnh tín dụng nhằm chia sẻ rủi ro tài chính khi quy mô khoản vay vượt quá 25% vốn tự có.

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ nhân sự. Văn phòng Quỹ cần phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng định kỳ 2 khóa/năm về quản trị an ninh tài chính phi truyền thống và kỹ năng định giá tài sản bảo đảm phức tạp cho toàn bộ 32 cán bộ chuyên trách, đảm bảo tỷ lệ cán bộ có trình độ sau đại học đạt trên 40% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Thứ nhất, Ban Lãnh đạo và cán bộ điều hành tại hệ thống Quỹ Đầu tư phát triển địa phương trên cả nước. Luận văn cung cấp use case thực tế về mô hình hóa chi phí an ninh tài chính, giúp các nhà quản trị nhận diện điểm nghẽn trong việc cân bằng giữa mục tiêu bảo toàn vốn Nhà nước và thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội địa phương.

Thứ hai, cán bộ thẩm định và chuyên viên quản trị rủi ro tại các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại. Tài liệu cung cấp quy trình chi tiết về việc ứng dụng hệ số Altman Z-score, mô hình tổn thất dự kiến EL và tiêu chí 6C để sàng lọc các dự án đầu tư hạ tầng có chu kỳ vay vốn dài hạn từ 5 đến 15 năm.

Thứ ba, các cơ quan hoạch định chính sách gồm Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp cơ sở thực tiễn về những vướng mắc pháp lý khi triển khai Nghị định 138/2007/NĐ-CP, Nghị định 37/2013/NĐ-CP và Nghị quyết 42/2017/QH14, làm căn cứ sửa đổi khung khổ pháp lý cho hệ thống quỹ tài chính công ngoài ngân sách.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản trị An ninh phi truyền thống, Quản trị Kinh doanh và Tài chính - Ngân hàng. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu định lượng kết hợp định tính trong việc giải quyết bài toán rủi ro tín dụng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Quỹ Đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo nguyên tắc và địa vị pháp lý nào? Căn cứ theo Nghị định số 138/2007/NĐ-CP và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP, Quỹ là tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương, hoạt động theo mô hình ngân hàng chính sách, tự chủ tài chính, không vì mục tiêu lợi nhuận, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu và thực hiện mục tiêu bảo toàn, phát triển nguồn vốn ngân sách.

Thời hạn và hạn mức cho vay đầu tư tại Quỹ Đầu tư phát triển Ninh Bình được quy định ra sao? Thời hạn cho vay được xác định theo chu kỳ hoàn vốn của từng dự án nhưng tối đa không quá 15 năm (trừ trường hợp đặc biệt do UBND tỉnh quyết định). Mức cấp tín dụng cho một dự án không được vượt quá 20% vốn chủ sở hữu của Quỹ và tổng mức dư nợ đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn chủ sở hữu.

Mô hình Altman Z-score phát huy tác dụng gì trong việc thẩm định tín dụng tại NBDIF? Mô hình Z-score giúp chuẩn hóa việc lượng hóa sức khỏe tài chính của doanh nghiệp vay vốn thông qua 5 chỉ số tài chính cơ bản. Công cụ này phân loại khách hàng thành 3 nhóm rõ rệt, giúp cán bộ thẩm định từ chối cấp vốn hoặc yêu cầu bổ sung tài sản bảo đảm đối với các hồ sơ rơi vào vùng nguy hiểm (Z < 1.81).

Những rào cản chính khi thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42/2017/QH14 là gì? Nghị quyết 42/2017/QH14 yêu cầu hợp đồng thế chấp phải có điều khoản thỏa thuận thu giữ tài sản từ trước ngày 15/8/2017. Nhiều khách hàng không hợp tác ký bổ sung phụ lục, trong khi cơ chế phối hợp cưỡng chế của cơ quan công an và thủ tục rút gọn tại Tòa án theo Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP vẫn gặp nhiều khó khăn về thủ tục xác nhận công nợ.

Phương trình an ninh phi truyền thống đóng góp gì cho công tác quản trị tại NBDIF? Phương trình an ninh xác định tương quan: An ninh = (An toàn + Ổn định + Phát triển bền vững) - (Chi phí quản trị rủi ro + Chi phí khủng hoảng + Chi phí khắc phục). Mô hình này giúp NBDIF đánh giá toàn diện thiệt hại thực tế từ nợ xấu và tối ưu hóa chi phí đào tạo, chi phí pháp lý để bảo vệ an toàn hệ thống.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp nổi bật sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng tại định chế tài chính công địa phương, tích hợp thành công mô hình an ninh phi truyền thống vào quản trị tài chính.
  • Phân tích chi tiết thực trạng tài chính của NBDIF giai đoạn 2016 - 2018, làm rõ biến động doanh thu đỉnh điểm 60.639 triệu đồng năm 2017 và chỉ ra nút thắt quy mô vốn điều lệ thực tế đạt 203 tỷ đồng so với mục tiêu 500 tỷ đồng.
  • Nhận diện đầy đủ các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ môi trường kinh tế, rào cản thực thi pháp lý Nghị quyết số 42/2017/QH14 đến hạn chế trong công tác thẩm định nội bộ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình triển khai 2021 - 2025, định hướng kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2,0% và nâng cao năng lực cho 32 cán bộ chuyên trách.
  • Tạo lập tài liệu tham khảo chuẩn mực cho các cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống Quỹ Đầu tư phát triển trong việc kiện toàn khung pháp lý và quy trình quản trị rủi ro.

Để hiện thực hóa các mục tiêu an toàn tài chính và phát triển bền vững, Ban Lãnh đạo Quỹ Đầu tư phát triển Ninh Bình cùng các cơ quan hữu quan cần khẩn trương xem xét, phê duyệt và triển khai đồng bộ các giải pháp quản trị rủi ro đã được luận văn kiến nghị trong thời gian sớm nhất.