CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về hộ kinh doanh Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh 1. Đặc điểm hộ kinh doanh - Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân: Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do đó không thể là pháp nhân.
Nó khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nó. Mọi tài sản trong hộ kinh doanh đều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động kinh doanh.
Trường hợp hộ kinh doanh được tạo lập bởi hộ gia đình, thì hộ kinh doanh có bản chất hộ gia đình kinh doanh. Do đó hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân.Từ những đặc điểm trên, chủ hộ kinh doanh có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. - Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh quy mô rất nhỏ: Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lao động được sử Luan van 7 dụng trong hộ kinh doanh. Điều này gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với ý chí và khả năng kinh doanh của họ.
Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp có lẽ chưa tính đến đặc trưng của ngành nghề kinh doanh. Với một quán cà phê bình dân ở Buôn Ma Thuột con số người phục vụ có thể lên đến hàng chục với các công việc như pha chế, phục vụ bàn, vệ sinh, coi xe…Các quy định trên thực chất không cho phép hộ kinh doanh mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, như vậy quyền tự do kinh doanh phần nào đó có sự hạn chế, nên hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp nên không được áp dụng các quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp. - Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ trong hoạt động kinh doanh: Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc, chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh.
- Hộ kinh doanh kinh doanh trong nhiều lĩnh vực ngành nghề và tồn tại trên khắp vùng miền: Hộ kinh doanh ở khu vực nông thôn thường hoạt động trong ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp, chế biến nông, thủy hải sản…Ở những thị trấn, thành thị hộ kinh doanh hoạt động trong các ngành nghề thương mại dịch vụ, xây dựng, vận tải, tiểu thủ công nghiệp, chế biến…Năng lực, trình độ, điều hành, thông tin trong hoạt động kinh doanh hạn chế. Cho vay hộ kinh doanh của NHTM a. Khái niệm cho vay hộ kinh doanh của NHTM Cho vay hộ kinh doanh của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết cho hộ kinh doanh một khoản tiền Luan van 8 để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay hộ kinh doanh của NHTM - Do hộ kinh doanh hầu hết hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi thường nhỏ, vốn cần thiết cũng nhỏ nên các khoản vay cũng nhỏ nhưng số lượng khách hàng đông, phân tán theo địa bàn, đa dạng lĩnh vực kinh doanh cho nên chi phí tổ chức cho vay cao.
- Nguồn thông tin phục vụ cho vay thường không đầy đủ, không chính xác, trình độ học vấn và trình độ chuyên môn hạn chế, dự án kinh doanh sơ sài, điều này cho vay hộ kinh doanh gặp khó khăn, nhất là khâu thẩm định. - Khó kiểm tra chặt chẻ việc sử dụng vốn của khách hàng: Do nhu cầu vay vốn của hộ kinh doanh thường nhỏ lẻ, chủ yếu đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và kinh doanh thương mại dịch vụ, số lượng khách hàng lại đông nên ngân hàng gặp khó khăn khi kiểm soát việc khách hàng sử dụng vốn có đúng mục đích hay không. Phân loại cho vay hộ kinh doanh của ngân hàng thương mại ► Theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: Cho vay có thời hạn đến 1 năm chủ yếu được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động tạm thời cho hộ kinh doanh nhằm trợ giúp cho hoạt động nông nghiệp như: Trồng trọt, thu hoạch, chăn nuôi gia súc và hoạt động thương mại dịch vụ để trang trải chi phí mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả lương. - Cho vay trung hạn: Cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm với mục đích chủ yếu là đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các công trình mới có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: Cho vay có thời hạn trên 5 năm. Cho vay dài hạn Luan van 9 nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho xây dựng cơ bản (nhà xưởng, kho bãi, dây truyền chế biến, cơ sở dịch vụ, trang trại và các mục đích mua bất động sản khác) có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn lâu hơn. ►Theo ngành nghề - Hộ kinh doanh Nông, Lâm, Ngư nghiệp - Hộ kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, chế biến - Hộ kinh doanh vận tải, xây dựng - Hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ ►Theo hình thức bảo đảm. - Cho vay có tài sản đảm bảo + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai + Cho vay bằng hình thức bảo lãnh - Cho vay không có tài sản đảm bảo ►Theo phương thức cho vay.
- Cho vay từng lần - Cho vay theo hạn mức tín dụng - Cho vay theo các phương thức khác ► Theo xuất xứ của tín dụng - Cho vay trực tiếp - Cho vay bán gián tiếp - Cho vay gián tiếp 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh là khả năng xảy ra những Luan van 10 thiệt hại, mất mát và tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do hộ kinh doanh không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh a.
Rủi ro theo nguyên nhân Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD trong cho vay hộ kinh doanh được phân chia thành : rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục: Sơ đồ 1.1 : Phân loại rủi ro tín dụng * Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, lựa chọn khách hàng khi tác nghiệp chưa tốt. Cụ thể việc phân tích đánh giá khách hàng còn nhiều sơ hở; Lựa chọn phương án vay vốn còn qua loa; Phương án thu nợ thiếu chắc chắn dẫn đến rủi ro.
+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo. + Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và Luan van 11 hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề * Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro theo tính chất * Rủi ro đặc thù Ngoài ra Rủi ro tín dụng trong cho vay hộ kinh doanh còn có thể được phân thành RRTD khách quan (là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích, bỏ trốn,…và các biến động ngoài dự kiến khác dẫn đến thất thoát vốn vay); rủi ro tín dụng chủ quan (là rủi ro do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay do vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay).