Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tô chức kinh tế. Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và thực tiễn tại tỉnh Điện Biên. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng. cho thuê quyền sử dụng đất.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP DONG CHO THUE QUYEN SU’ DUNG DAT CUA TO CHUC KINH TE Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế 1. Khái niệm hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế Quyền sử dụng đất là một trong các quyền năng của sở hữu đất đai. Quyền năng đầy đủ của chủ sở hữu đất đai theo tỉnh thần của Pháp luật dân sự quy định là các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Ở Việt nam, đất đai thuộc sở hữu toàn.
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Chỉ có Nhà nước mới có đầy đủ các quyền năng về chiếm hữu, sử dụng và định đoạt với tư cách là đại diện chủ sở hữu. Một cách tổng quát nhất, quyền sử dụng đất là quyền khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp thông qua các hành vi sử dụng đất hoặc chuyên quyền đó cho người khác. Theo quy định của BLDS thì cho thuê QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên tuân theo các điều kiện, nội dung, hình thức chuyển QSDĐ được BLDS và pháp luật đất đai quy định.
Theo đó, bên cho thuê chuyển giao dat cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê. Từ khái niệm trên cho thấy, quyền cho thuê QSDĐ được phát sinh trên cơ sở QSDĐ hợp pháp của người cho thuê. QSDĐ này có thể được hình thành từ nguồn đất được Nhà nước giao hoặc do nhận chuyển nhượng hợp pháp từ người khác. Theo quy định của LĐĐ thì Nhà nước có quyền cho thuê đắt để sử dụng vào mọi mục đích sản xuất, kinh doanh cho tắt cả các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất mà không thuộc diện được Nhà nước giao đi cho thuê đất được thực hiện bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thâm quyền - quyết định cho thuê đất.
Như vậy, quyền cho thuê đất của Nhà nước là một quyền năng hết sức rộng rãi, Nhà nước có quyền cho thuê đối với mọi đối tượng, để sử dụng vào mọi mục đích và không bị khống chế bởi không gian, thời gian và diện tích đất. 'Khác với quyền cho thuê đất của Nhà nước, quyền cho thuê đất của người sử dụng đất được phát sinh trên cơ sở QSDĐ được chủ sở hữu là Nhà nước trao cho. Chính vì vậy, người sử dụng đất không được tùy tiện cho thuê QSDĐ của mình mà luôn luôn được Nhà nước kiểm soát. Việc cho thuê được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận và thông qua hình thức hợp đồng - hợp đồng cho.
Cho thuê QSDĐ theo LĐĐ chỉ có một số đối tượng thật đặc biệt sử dụng t loại đất trong những điều hoàn cảnh đặc biệt mới được quyền cho thuê, đó là các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản được quyền cho thuê QSDĐ khi có một trong các điều kiện: - Do. hoàn cảnh gia đình neo đơn, khó khăn; - Do thiếu sức lao động; - Do chuyển sang làm nghề khác nhưng chưa ồn định. Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 17/CP/1999 thì các hộ gia đình được Nhà nước giao đất không chỉ có quyền được cho thuê QSDĐ nông nghiệp hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản theo quy định tại LĐĐ mà họ còn được cho thuê QSDĐ ở, đất chuyên dùng. Cùng với việc mở rộng quyền cho thuê QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân, LĐĐ đã xác lập quyền cho thuê QSDĐ của các tổ chức sử dụng.
Tuy nhiên, không phải bắt kỳ tổ chức nào có QSDĐ hợp pháp cũng được quyền cho thuê QSDĐ mà chỉ có tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất và tô chức kinh tế nhận QSDĐ hợp pháp từ người khác mới được quyền cho thuê QSDĐ LĐĐ 2013 quy định như sau: Người sử dụng đất được thực hiện quyền cho thuê QSDĐ khi có đủ các điều kiện: (1) Có giấy chứng nhận QSDĐ; (2) Đất không có tranh chấp; (3) QSDĐ không bị kê biên để thi hành án; (4) Trong thời hạn sử dụng đất. Chuyển QSDĐ theo Pháp luật Việt Nam bao gồm: Cho thuê, cho thuê lại chuyển đồi, chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế, tặng cho QSDĐ, thế chấp bằng giá trị QSDĐ. Trong đó, cho thuê QSDĐ là một trong những giao dịch phổ biển trong nên kinh tế thị trường. Cho thuê QSDĐ đã hạn chế được việc sử dụng đất không 10 hiệu quả, đồng thời đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế cho người được giao QSDĐ.
Cho thuê QSDĐ đã góp phần làm phong phú thêm các giao dịch trên thị trường BĐS và nâng cao giá trị QSDĐ. Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể nào về cho thuê QSDĐ. Có thể hiểu cho thuê QSDĐ là: khi NSDĐ được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất hoặc công nhận QSDĐ do những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau không thể trực tiếp khai thác, sử dụng đất thì có thể lựa chọn hình thức là cho thuê, cho thuê lại QSDĐ. Người cho thuê mặc dù không trực tiếp sử dụng đất nhưng vẫn có thể thu được một khoản lợi ích vật chất từ việc cho thuê mà không mắt đi QSDĐ của mình, trong khi đó người đi thuê có thể dễ dàng tìm kiếm được QSDĐ làm mặt bằng cho sản xuất, kinh doanh với khoản tiền thích hợp trong trường hợp khó khăn về tài chính chưa thể nhận chuyên nhượng được hoặc vì lý do.
khác không có đất. Khi Nhà nước cho thuê đất là một trong những cách thức thực hiện quyền năng của chủ sở hữu đất đai, nhằm phân phối hợp lý quỹ đất cho các mục đích sử dụng khác nhau. Việc cho thuê đất này được thực hiện bằng một quyết định hành chính. “Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đắt (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho tượng có nhu cầu sử dụng đắt thông qua hợp đồng cho thuê quyển sử dụng đất" [*].
Cho thuê đất trong trường hợp này đã xác lập mối quan hệ theo chiều dọc giữa Nhà nước và NSDĐ. Khác với việc cho thué dat cua chu tl éla Nhà nước với cá nhân, tổ chức, trong trường hợp này việc cho thuê đất thực hiện bằng quyết định hành chính còn hợp đồng cho thuê QSDĐ là quan hệ dân sự ngang bằng giữa một bên là tổ chức có QSDĐ, cá nhân và một bên là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác có nhu cầu sử dụng đất. Đây là quan hệ dân sự, được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng thông qua hợp đồng cho thuê, là mối quan hệ giữa người SDĐ với nhau. 3 Khoản 8 Điều3 Luật Đất đai năm 2013.
1I Tổ chức kinh tế bao gồm: doanh nghiệp, hợp tác xã và tô chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật dân sự (trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)|”] Trong phạm vi nghiên cứu đề tài thì đối tượng cho thuê QSDĐ đề cập ở đây chỉ là QSDĐ của doanh nghiệp được quyền tham gia hợp đồng trong thị trường BĐS với mục đích lợi nhuận. Hình thức cho thuê QSDĐ hợp pháp phải thực hiện bằng văn bản và tuân thủ chặt chẽ các quy định vẻ trình tự thủ tục, nội dung, hình thức giao kết hợp đồng. Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, hợp đồng thuê tài sản nói chung là sự thỏa thuận giữa các bên: “Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuế" (Điều 472 BLDS năm 2015). Đối tượng của hợp đồng thuê là tài sản gồm: động sản, BĐS hoặc quyền tài sản mà QSDĐ là một loại tài sản đặc biệt.
Cho nên, hợp đồng thuê QSDĐ cũng là một dạng của hợp đồng thuê tài sản với tính chất đặc thù của tài sản là QSDĐ. “Hợp đồng cho thuê QSDĐ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê chuyển giao đất cho bên thuê đất đề sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải sử dụng đất đúng mục đích, trả tiền thuê và trả lại đất khi hết thời hạn thuê theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật về đất đai ” 1. Đặc điểm của Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế Hợp đồng thuê QSDĐ ngày càng trở thành giao dịch phổ ến trong đời sống dân sự và trong mọi hoạt động của con người. Hợp đồng thuê QSDĐ về mặt bản chất là hợp đồng thuê tai sản.
Do đó, hợp đồng này cũng mang những đặc điểm của hợp đồng thuê tài sản thông thường. Thứ nhất, Hợp đằng cho thuê quyền sử dụng đất là hợp đẳng song vụ: 'Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà theo đó cả bên cho thuê và bên thuê đều có nghĩa vụ với nhau. Bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện đúng như trong thỏa thuận. Ngược lại, bên thuê quyền sử dụng đắt cũng có quyền yêu cầu bên 3 Khoản 27 Điều 3 Luật Đắt đai năm 2013 12 cho thuê giao đầy đủ các giấy tờ có liên quan đến QSDĐ như đã thỏa thuận.
Như vậy, quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên thuê trong hợp đồng thuê QSDĐ là đối xứng nhau, bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê thực hiện những hành vi nhất định và ngược lại đó cũng là quyền của bên thuê. Điều này thể hiện được tính song vụ của hợp đồng thuê QSDĐ. Thứ hai, Hợp đông cho thuê quyên sử dụng đất là hợp đông ưng thuận: Tính ưng thuận của hợp đồng được thể hiện ở chỗ thời hợp đồng được xác định tại thời điểm các bên đạt được thỏa thuận với nhau. Các bên vẫn có quyền thỏa thuận trong hợp đồng và khi thỏa thuận đạt được tức là thời điểm.
hợp đồng có hiệu lực.