Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp đo lường chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 3: Thực trạng hoạt động tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á Châu chỉ nhánh Đà Nẵng. Chương 4: Kết quả đo lường chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á Châu chỉ nhánh Đà Nẵng và một số gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng đối với khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Á Châu - chỉ nhánh Đà Nẵng.
Tổng quan tài liệu PGS.TS Võ Thị Thúy Anh, “Đo lường chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng của NHTM - Vận dụng thực tiễn tại NHTMCP Ngoại thương VN, chỉ nhánh Đà Nẵng” đăng trên tạp chí phát triển kinh tế 2012. Trên cơ sở nền tảng của mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVPERE của Cronin và Taylor, nghiên cứu này đã phát triển mô hình đo lường chất lượng dịch vụ tiêu dùng của ngân hàng thương mại với 6 thành phần, 34 yếu lố. Kết quả van dụng thực tiễn tại VCB Đà Nẵng cho thấy nhân tố “năng lực phục vụ và sự thấu cảm” có tác động mạnh nhất đến chất lượng dịch vụ tín dụng tiêu dùng, tiếp theo lần lượt là nhân tố “giá cả cảm nhận”, “độ tin cậy về lời hứa với khách hàng”, “su thuận tiện và phương tiện hữu hình”, “khả năng đáp ứng sau khi giải ngân” và cuối cùng là “độ tin cậy về quá trình cung ứng dịch vụ” Th.S Phạm Thị Mai Anh (2009), “Nghiên cứu thống kê chất lượng dịch vụ ngân hàng”, tạp chí ngân hàng số 12 tháng 06/2009, tr 28-31. Dựa trên mô hình SERVQUAL do parasuraman, Zeithaml và Berry đề xuất vào năm 1985, 1988.
Mô hình SERVQUAL được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ là sự so sánh giữa các kỳ vọng, mong đợi và các giá trị khách hàng cảm nhận được. Trong nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra mô hình SERVQUAL đối với dịch vụ ngân hàng gồm 5 nhân tố đó là độ tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm và phương tiện hữu hình, với 26 thuộc “Trên cơ sở các biến số đo lường theo mô hình SERVQUAL, nghiên cứu chất lượng dịch vụ ngân hàng theo các bước sau: xác định các biến số đo lường các thuộc tính dịch vụ; kiểm tra độ tin cậy của thang đo. phân tích nhân tố khám phá, đo lường và thiết lập thứ tự ưu tiên cải tiền chất lượng. Với các thuộc tính dịch vụ được xác định bằng thang đo SERVQUAL, bằng các phương pháp thống kê thích hợp có thể đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng, xác định tầm quan trọng của từng yếu nói chung đến sự hài lòng của khách hàng.
Đây là một cách cận dịch vụ dưới góc độ thống kê, tạo cơ sở cho các nhà quản lý đưa ra quyết định cải tiến chất lượng phù hợp. Nguyễn Huy Phong, Phạm Ngọc Thúy, trường ĐHBK HCM; tạp chí phát triển KH&CN, tập 10, số 8, 2007 : “SERVQUAL hay SERVPERF - một nghiên cứu so sánh trong ngành siêu thị bán lẻ Việt Nam” - Mục tiêu của nghiên cứu: So sánh hai mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL va SERVPERF trong bối cảnh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tại các siêu thị bán lẻ Việt Nam. - Đối tượng nghiên cứu: Các khách hàng sau khi thăm quan, mua sắm tại siêu thị. Nghiên cứu không thực hiện cho các siêu thị nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo áp dụng cho các DN kinh doanh trong lĩnh vực này, cả về thông tin đánh giá của khách hàng và phương pháp đo lường. - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo 2 bước chính: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Bước 1: Hiệu chỉnh bộ thang đo SERVQUAL cho phù hợp với bối cảnh siêu thị bán lẻ Việt Nam. Tiếp theo, nhóm tác giả sử dụng thang đo này thực hiện phỏng vấn sâu 15 khách hàng thường mua sắm tại các siêu thị thuộc khu vực trung tâm TP HCM để hoàn chỉnh bản câu hỏi sử dụng ở bước 2.
Bước 2: Sau khi phỏng vấn khách hàng là những người có độ tuổi từ 18 trở lên, là những người đến tham quan mua sắm tại siêu thị, có tần suất mua sắm ít nhất 1 lần/tháng ở các siêu thị: nhóm tác giả đã tiến hành phân tích mô tả, kiểm định thang đo, kiểm định mô hình. - Kết quả so sánh hai mô hình Theo phương pháp nghiên cứu trên nhóm tác giả đã đưa ra kết luận: (1) sử dụng mô hình SERVPERE sẽ có kết quả tốt hơn mô hình SERVQUAL; (2) Bảng câu hỏi theo mô hình SERVPERF ngắn gọn hơn phân nữa so với SERVQUAL, không gây nhàm chán và mắt thời gian cho người trả lời.A Zeithaml, Berry (1998), “SERVQUAL: A multiple — ltem scale for measuring consumer perception of service quality”, Journal of Retailing, Vol. Theo ông với bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng cũng được khách hàng cảm nhận dựa trên 10 thành phần gồm độ tin cây, khả năng đáp ứng, năng lực phục vụ, tiếp cận, lịch sự, thông tin, tín nhiệm, an toàn, sự hiểu biết khách hàng và phương tiện hữu hình. Với mỗi thành phần, parasuraman đã đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá.
Tuy nhiên, nghiên cứu chất lượng dịch vụ tin dung tiêu dung tai ACB Đà Nẵng thì chưa có công trình nào nghiên cứu. Để thực hiện đề tài, tác giả có kế thừa những ý tưởng về cơ sở lý luận và một số nội dung có liên quan đến các tài liệu trên CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ TÍN DỤNG TIEU DUNG DOI VOI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một khái niệm phổ biến trong marketing và kinh doanh. Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ nhưng theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì "Dịch vụ là những hành vi, quá trình, và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng” 1.
Đặc điểm dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt" có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không thẻ đồng nhất, tính không thê tách rời và tính không thể cắt trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được. + Tính vô hình: Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không t ờ mó, cân đo, đong đếm, một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế.
Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng. thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ, khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất. + Tính không đồng nhất: Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ.
Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phô thông” đến “thứ ”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa. vào một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong từng trường hợp cụ thể.
+ Tính không thé tach rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra đồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối, và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. ï với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tắt. + Tính không thể cắt trũ. Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cắt dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục lồi” lại.
Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó. DỊCH VỤ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG ĐÓI VỚI KHÁCH HANG CA NHÂN 1. Dịch vụ ngân hàng Trong phân tổ các ngành của nền kinh tế thì ngành ngân hàng thuộc lĩnh vực dịch vụ nên dịch vụ ngân hàng được hiểu là tất cả các hoạt động kinh 10 doanh của một ngân hàng, bao gồm cả hoạt động tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn inh doanh cho các thành phần kinh tế; sinh hoạt cuộc sống, cắt trữ tài sản cho khách hàng và sinh lợi cho ngân hàng. Dịch vụ tín dụng của ngân hàng Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc tô chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp.
Nếu xem xét tín dụng là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì có thể định nghĩa: “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng hoặc các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác). Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo các điều kiện đã thỏa thuận (thời gian, phương thức thanh toán lãi-gốc, thế chấp, cầm cố.