phần mở đầu và kết luận kiến nghị và danh mục tài liện tham khảo, luận văn gồm 03 chƣơng sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác quản trị cho vay trong các ngân hàng thƣơng mại 3 Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị cho vay tại Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng khu vực Thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác quản trị cho vay tại Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vƣợng khu vực Thành phố Hải Phòng 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHO VAY TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về hoạt động cho vay trong các ngân hàng thƣơng mại 1. Ngân hàng thương mại * Khái niệm NHTM “Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Đó là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại” [7]. “Ngân hàng đƣợc chia làm hai loại: NHTM và NHNN.
Ngân hàng Nhà nƣớc (NHTW) không hoạt động vì mục đích lợi nhuận và cũng không kinh doanh tiền tệ” [10]. “Ngân hàng thƣơng mại là tổ chức cho vay thể hiện nhiệm vụ cơ bản nhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn. NHTM là cầu nối giữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu. Hoạt động của NHTM nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là “vốn - tiền”, trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệch lãi suất đó chính là lợi nhuận của NHTM.
Hoạt động của NHTM phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hình doanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội” [10]. Theo Thông tƣ 43/2016/TT-NHNN quy định hoạt động cho vay tiêu dùng tại công ty tài chính ban hành ngày 30/12/2016. “Ngân hàng là loại hình tổ chức cho vay đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác” [4].
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân 5 hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán” [5]. “Ngân hàng thƣơng mại là ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức cho vay và các quy định khác của pháp luật” [11]. Hoạt động cho vay * Khái niệm cho vay Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thƣơng mại để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tƣ.
Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đã định nghĩa cho vay nhƣ là “Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tƣơng lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào cũng vì có sự xen lẫn đó, cho nên có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ cho vay. Cho vay là một hình thức cấp cho vay, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi. Định nghĩa trên đƣợc các ngân hàng và tổ chức cho vay khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình.
* Bản chất cho vay Về mặt hình thức, cho vay là sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng một lƣợng giá trị nhất định dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng và khi đến hạn, ngƣời sử dụng phải hoàn trả lại cho ngƣời sở hữu một lƣợng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này đƣợc gọi là lợi tức cho vay. Cho vay nặng lãi thích ứng với nền sản xuất nhỏ. Trong điều kiện này, 6 ngƣời cho vay nặng lãi chiếm hầu hết sản phẩm thặng dƣ của ngƣời nông dân và thợ thủ công dƣới hình thức lợi tức.
Vì thế cho vay nặng lãi làm bần cùng hóa phạm vi rộng lớn những ngƣời sản xuất nhỏ và góp phần làm xuất hiện phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Tuy vậy, khi phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa phát triển, việc cho vay nặng lãi đã trở thành chƣớng ngại cho sự phát triển của chủ nghĩa tƣ bản vì lợi tức cho vay quá cao và vì vậy dần bị đẩy lùi. Chủ nghĩa tƣ bản chống nạn cho vay nặng lãi thông qua những luật lệ của nhà nƣớc tƣ bản và những điều răn đe cấm hoặc kết tội của nhà thờ, nhƣng chủ yếu bằng những biện pháp kinh tế nhƣ lập ra các ngân hàng, xây dựng chế độ cho vay tƣ bản chủ nghĩa. Ẩn dƣới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ ngƣời có vốn và ngƣời cần vốn là quan hệ vay mƣợn.
Hay nói rõ hơn, bản chất của cho vay là quan hệ vay mƣợn giữa ngƣời cho vay và ngƣời đi vay. Họ là những ngƣời khác nhau trong nền kinh tế, gặp nhau ở điểm cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng đáp ứng nhu cầu này theo những tổ chức của pháp luật và những nguyên tắc cho vay tƣơng ứng. Nội dung công tác quản trị cho vay trong các ngân hàng thƣơng mại 1. Quản trị khách hàng và và lĩnh vực đầu tư cho vay Nhiều tài liệu nghiên cứu chƣa đề cập khách hàng vay là nội dung của quản trị cho vay của NHTM nhƣng lại xem khách hàng nhƣ là tôn chỉ mà quản trị cho vay NHTM hƣớng tới, là một chiến lƣợc cho vay của ngân hàng: “Đứng về mặt chiến lƣợc mà nói, một quản trị cho vay phải thu hút đƣợc khách hàng, duy trì và phát triền đƣợc khách hàng để mở rộng qui mô hoạt động của NHTM” [5].
Khách hàng là một nội dung cơ bản của quản trị cho vay. Bời vì, có xác định đƣợc đối tƣợng khách hàng thì mới có cơ sở để xác định các nội dung còn lại của quản trị cho vay. Rõ ràng, nhu cầu về vốn, điều kiện vay, thời hạn vay, khả năng sinh lời, đảm bảo tiền vay, rủi ro cho vay là những nội dung của quản trị cho vay đối với khách hàng nói chung và từng đối tƣợng khách 7 hàng cụ thể. Quản trị cho vay phải trả lời đƣợc câu hỏi đối tƣợng khách hàng là ai, khả năng của khách hàng nhƣ thế nào đối với sự an toàn và hiệu quả của khoản cho vay; do vậy, khách hàng vay là một nội dung cơ bản của quản trị cho vay của NHTM.
Khách hàng nhận vốn cho vay rất đa dạng, từ các Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình, cá nhân, đến các hợp tác xã, các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Trong đó, nhóm khách hàng lớn nhất và cơ bản nhất mà quản trị cho vay hiện nay phải hƣớng tới là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các khách hàng lẻ khác. Việc phân loại xác định rõ chất lƣợng khách hàng là cơ sở quan trọng để xác định lĩnh vực đầu tƣ cho vay của NHTM. Đó cũng chính là cơ sở để xác định cơ cấu, đầu tƣ cho vay của ngân hàng.
Sự tƣơng tác giữa xác định chính sách khách hàng vay và đầu tƣ của ngân hàng là một trong những nội dung quan trọng trong quản trị cho vay ngân hàng. Quản trị điều kiện cho vay Quản trị cho vay phải thể hiện đƣợc các nguyên tắc phù họp với bản chất cho vay, đó là: sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp dồng cho vay hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay của NHTM nhƣng lại xem khách hàng nhƣ là tôn chỉ mà quản trị cho vay NHTM hƣớng tới, là một chiến lƣợc cho vay của ngân hàng: “Đứng về mặt chiến lƣợc mà nói, một quản trị cho vay phải thu hút đƣợc khách hàng, duy trì và phát triển đƣợc khách hàng để mở rộng qui mô hoạt động của NHTM” [5]. Quản trị giới hạn cho vay Để bảo đảm nguyên tắc vay vốn, khách hàng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định, đó là: (1) có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật; (2) mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; (3) có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời 8 hạn cam kết; (4) có dự án đầu tƣ, phƣơng án SXKD, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tƣ, phƣơng án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp qui định của pháp luật; (5) thực hiện các qui định về bảo đảm tiền vay theo qui định của luật pháp [5]. Qui mô tối đa phải đàm bào kết họp tính sinh lời với mức rủi ro có thể chấp nhận của từng khoản cho vay, từng nhóm khách hàng, từng ngành hàng.
Ví dụ: một ngân hàng đang tài trợ cho vay cho hai ngành kinh tế A và B với tỷ lệ A/B là 1/1, lãi suất cho vay bình quân ngành A là 12% và tỷ lệ rủi ro về không thu đƣợc nợ là 2%; lãi suất cho vay bình quân ngành B là 14% và mức độ rủi ro là 5%. Nhƣ vậy lãi suất thực thu bình quân tính toán đƣợc của ngân hàng sẽ là: {0,5 (1-0,02) X 12% + 0,5 (1-0,05) X 14% }/l = 12,53% Điều đó cho vay ngành B có độ rủi ro bằng 2,5 lần ngành A nên ngân hàng quyết định thay đổi cơ cấu dƣ nợ A/B là 3/1. Do ngành A nhận nhiều vốn nên việc chọn lựa dự án thiếu chọn lọc hơn. Ngƣợc lại, ngành B cắt giảm đƣợc các dự án ít hiệu quả nên mức độ rủi ro đƣợc cải thiện.