Chương 1. Cơ sở lý luận về cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - chi nhánh KCN Phú Tài. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - chi nhánh KCN Phú Tài.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái quát hoạt động cho vay của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động cho vay Khi nói đến hoạt động tín dụng của các NHTM, người ta thường nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhất thuật ngữ” cho vay” với thuật ngữ” tín dụng”. Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Như vậy, có thể thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng phong phú và đa dạng hơn nhiều hay nói cách khác cho vay chỉ là một hình thức của tín dụng ngân hàng.
Trong hoạt động tín dụng thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và thường chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng. Căn cứ Khoản 16, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ khái niệm trên có thể nhận thấy một số đặc trưng cơ bản của cho vay như sau: + Cho vay có hình thái giá trị tín dụng là tiền tệ: Đây là điểm khác biệt cơ bản với các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh hoặc cho thuê tài chính. Với hình thái là tiền tệ, cho vay nhiều lợi thế hơn so với các hình thức tín dụng khác bởi nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội.
Cho đến nay, mặc dù ngân hàng đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với sự xuất hiện của nhiều hình thức tín dụng khác nhau, cho vay vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại hình tín dụng của ngân hàng. 8 +Bản chất của cho vay là ứng trƣớc nên độ rủi ro cao: Trong cho vay ngân hàng chuyển tiền cho khách hàng dựa trên một dự định, một ý tưởng kinh doanh khách hàng sắp thực hiện, hay nói khác đi là tiền được đưa ra khi người vay chưa hoặc mới bắt đầu thực hiện ý định của mình. Việc cấp tín dụng được thực hiện sau khi ngân hàng xem xét, phân tích về tính khả thi, hiệu quả của ý tưởng, mục đích sử dụng tiền của khách hàng. Tuy nhiên trong thực tế từ ý tưởng cho đến hiện thực là một khoảng cách gian nan, không dễ gì rút ngắn.
Có thể xuất hiện rất nhiều biến cố tác động làm cho ý tưởng, dự định đó không thành công và nguồn trả nợ không hình thành. Vì vậy độ rủi ro của cho vay là cao hơn so với các hình thức tín dụng khác. Rủi ro của một khoản cho vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó. Với chức năng là phương tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội.
Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã được chuyển vào tay khách hàng và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ được cho ngân hàng. + Đối tƣợng cho vay phong phú: Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng còn lại. Đối tượng cho vay trả lời cho câu hỏi: ngân hàng cho vay cái gì? Sự phong phú đối tượng cho vay xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng: có thể là vay để đầu tư xây dựng cơ bản, vay mua sắm máy móc thiết bị, vay kinh doanh, vay tiêu dùng, vay để hình thành nguồn vốn cho vay của các định chế tài chính khác….Những mục đích vay phong phú có thể dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thời hạn, về quy mô,…nên phạm vi đối tượng cho vay của ngân hàng rất rộng lớn. + Phƣơng thức cho vay đa dạng: Phương thức cho vay chỉ ra cách thức và phương pháp mà ngân hàng tiến hành trong quá trình cho vay.
Mặc dù cho vay là một hình thức cấp tín dụng thông qua sự chuyển giao vốn tiền tệ từ ngân hàng cho khách hàng nhưng có nhiều cách thức chuyển giao khác nhau, do vậy phân biệt thành các phương thức cho vay khác nhau. Mỗi phương thức cho vay là một tập hợp các kỹ thuật tác nghiệp cụ thể của ngân hàng khi thực hiện khoản vay, bao gồm kỹ 9 thuật xác định mức cho vay, thời hạn vay, định kỳ hạn nợ, giải ngân thu nợ và xử lý.2 Phân loại hoạt động cho vay (a) Căn cứ vào thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của các doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Đây là loại hình cho vay có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, lạm phát cũng như sự bất ổn của môi trường kinh tế và thị trường, vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại hình cho vay khác. - Cho vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất và xây dựng các dự án có quy mô vừa và nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất,…), xây dựng cơ sở hạ tầng ( đường xá, cảng biển, sân bay,…), cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Do thời hạn đầu tư thường kéo dài nên cho vay dài hạn thường áp dụng hình thức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án. Nhìn chung, cho vay dài hạn chịu rủi ro rất lớn bởi vì thời hạn càng dài thì những biến động không dự tính được có thể xảy ra càng lớn (Nguyễn Văn Tiến, 2016). (b) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng - Cho vay không có bảo đảm: là loại hình cho vay chỉ dựa trên uy tín của chính người vay, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/dự án vay, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm.
Các NHTM có quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay không có tài sản bảo đảm. Thông thường chỉ có những khách hàng vay có uy tín cao, quan hệ lâu dài, thường xuyên với Ngân hàng, phương án vay có hiệu quả kinh tế, dòng tiền trả nợ rõ ràng, chắc chắn, ngoài ra còn phải cam kết thực hiện bảo đảm 10 bằng tài sản khi TCTD yêu cầu thì mới được Ngân hàng chấp nhận cho vay không có đảm bảo (Bùi Diệu Anh, 2013). - Cho vay có bảo đảm: Là cho vay dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo đảm như cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hầu hết các khách hàng vay mới, ít quan hệ đều phải áp dụng đảm bảo mới được Ngân hàng cho vay.
Quy định này nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được (Bùi Diệu Anh, 2013). (c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay - Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế trên mọi lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ,… - Cho vay tiêu dùng : Là các khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình như: xây nhà, mua xe ô tô, mua sắm trang thiết bị gia đình, du học, chữa bệnh, cưới hỏi,… (d) Căn cứ vào phương thức cho vay Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, có các phương thức cho vay cụ thể như sau: (i) Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, TCTD và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. (ii) Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai TCTD trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn. (iii) Cho vay lưu vụ: Là việc TCTD thực hiện cho vay đối với khách hàng để nuôi trồng, chăm sóc các cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm.
Theo đó, TCTD và khách hàng thỏa thuận dư nợ gốc của chu kỳ trước tiếp tục được sử dụng cho chu kỳ sản xuất tiếp theo nhưng không vượt quá thời gian của 02 chu kỳ sản xuất liên tiếp. (iv) Cho vay theo hạn mức: TCTD xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong 11 hạn mức cho vay, TCTD thực hiện cho vay từng lần. Một năm ít nhất một lần, TCTD xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.
(v) Cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận. TCTD và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 năm.