CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE NO XÁU TRONG HOẠT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI VA PHAP LUAT VE NO XAU TRONG HOAT DONG CHO VAY CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Những vấn dé lý luận về nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và đặc điểm của nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Các quan điểm về nợ xấu của ngân hang thương mại Có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu nói chung và nợ xấu của NHTM nói riêng.
Dưới góc nhìn từ phía NHTM thi nợ xấu có thé hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động. Nói cách khác, nợ xấu là những khoản cho vay trở nên không sinh lời khi người vay dừng việc thanh toán và khoản vay bắt đầu bị vỡ nợ. Nợ xấu cũng có thé hiểu là các khoản nợ đưới chuẩn bị nghi ngờ về kha năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, thường xảy ra khi người vay nợ tuyên bố phá sản hoặc đã bán dần tài sản [7. Về bản chất, nợ xấu là khái niệm dùng dé chỉ các khoản nợ của ngân hàng đang đối diện với nguy cơ rủi ro cao trong việc thu hồi lại cả gốc và lãi do khách hàng gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ hoặc phá sản.
Sau đây là một số quan điểm về nợ xấu trên thế giới với những cách tiếp cận khác nhau: Theo định nghĩa của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), nợ xấu trong các NHTM bao gồm: - Những khoản nợ không thé thu hôi được: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ nợ; người mac nợ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản dé thanh toán no; những khoản nợ mà ngân hàng không thê liên lạc được với người mac nợ hoặc không thé tim được người mac no; những khoản ng mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ dé trả nỢ; - Nợ có thể không thanh toán day đủ cho ngân hàng: Là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; người mắc nợ không liên lạc với ngân hàng dé trả lãi hoặc sốc có thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thé thu hồi đầy đủ. I] Như vậy, theo quan điểm của ECB thi nợ xấu được định nghĩa thông qua hai 6 yếu tố: (i): khoản nợ vay không có kha năng thu hôi, và (ii): mặc dù được thu hồi nhưng giá trị thu hồi là không đầy đủ. Như vậy, quan điểm về nợ xau của ECB được tiếp cận dựa trên kết qua thu hồi nợ của ngân hàng. Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Mộ khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hon đã được tái cơ cấu hoặc gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghỉ ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đây du”.
31] Về co bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ va khả năng trả nợ của khách hang. Khả năng trả nợ ở đây có thé hiểu là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ. Như vậy, so với quan điểm của ECB thì quan điểm về nợ xấu của IMF cũng dựa trên kết qua thu hồi nợ của ngân hàng, nhưng có bổ sung thêm yếu tô về thời gian quá hạn trả nợ. Đây được coi là định nghĩa có tính pho bién va hién đang được thừa nhận rộng rãi trên thế giới.
Theo định nghĩa về no xấu trong pháp luật thực định ở Việt Nam, “nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mat von)”. Như vay, ở Việt Nam nợ xấu cũng được xác định theo 2 yếu tố: (i) đã quá hạn trên 90 ngày; và (ii) khả năng trả nợ đáng lo ngại. Đây được coi là định nghĩa chính thức về nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam [10]. Tóm lại, từ các định nghĩa nói trên có thể nhận xét rằng quan niệm về nợ xấu là rất khác nhau.
Tuy nhiên, điểm thống nhất giữa các quan niệm về nợ xấu là ở chỗ, hầu hết các ý kiến đều thừa nhận rằng nợ xấu là những khoản nợ khó có khả năng thu hồi, do con nợ gặp khó khăn, làm ăn thu lỗ, phá sản hoặc cô tình chây ỳ không trả nợ. Việc tiếp cận các khái niệm về nợ xấu đều hướng đến mục đích nhìn rõ bản chất của khoản nợ, từ đó đưa ra phương án giải quyết dứt điểm. Theo quan điểm của tác giả luận văn, khái niệm nợ xấu cần được tiếp cận dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng. Có nghĩa là một khoản nợ cho vay trong hạn hoặc thậm chí mới cho vay, nhưng có dấu hiệu chứng tỏ răng khả năng trả nợ của khoản vay là đáng nghi ngờ thì cũng có thê coi là một khoản nợ xấu.
Đặc điểm của nợ xấu trong hoạt động cho vay của ngân hàng Khái quát được các đặc điểm của nợ xấu sẽ nhận biết được bản chất của nợ xâu, từ đó làm tiên đê cho việc thiệt kê, xây dựng chính sách quản lý nợ xâu trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Một cách khái quát, có thé nhận diện nợ xấu của NHTM thông qua các đặc điểm cơ bản sau đây: Tư nhất, nợ xâu trong hoạt động cho vay của ngân hàng là những khoản nợ dưới chuẩn. Theo quan niệm chung ở nhiều quốc gia trên thé giới, nợ dưới chuẩn được hiểu là nợ đã quá hạn trên 90 ngày mà con nợ vẫn không có dau hiệu trả được nợ. Như vậy, những khoản nợ quá hạn đến 90 ngày và con nợ không có những dau hiệu để nghi ngờ về khả năng trả nợ thì vẫn chưa được xếp vào nhóm “nợ xấu” trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
Thứ hai, nợ xâu trong hoạt động cho vay của ngân hàng là những khoản nợ có bằng chứng nghi ngờ về khả năng tra nợ của con nợ, chang hạn như: con nợ bỏ trồn hoặc tau tán tài sản; con nợ thua lỗ dẫn đến nguy cơ phá sản; con nợ chấm dứt ton tại trong khi tài sản còn lại không đủ thanh toán nợ. Đôi khi, sự chậm trễ bat thường va không có ly do trong việc cung cap các báo cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thỏa thuận hoặc chậm trễ trong việc liên lạc với cán bộ tín dụng cũng được xem là có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của con nợ. Ngoài ra, theo một số tác giả thì khi có một trong các hiện tượng như liệt kê dưới đây thì cũng được xem là có dấu hiệu nghi ngờ về khả năng trả nợ của con nợ, chăng hạn như: Sự thay đổi bất thường trong khấu hao, kế hoạch trả lương và phụ cấp giá trị hàng tồn kho, tài khoản thuế và thu nhập; cơ cau lại nợ hay hạn chế thanh toán cô tức, hoặc có sự thay đôi vị trí xếp hạng tín nhiệm; giá cô phiếu của công ty thay đôi bat lợi; thu nhập ròng giảm một hay nhiều năm, đặc biệt là các chỉ tiêu như tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản, tỷ lệ sinh lời trên vốn cô phần hay lợi tức trước thuế và lãi suất [21, tr.4]; những thay đổi bat lợi trong cơ cấu vốn của người vay như ty lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ nợ phải trả trên tổng tài sản, khả năng thanh toán hay mức độ hoạt động; sự thay đôi thường xuyên về tô chức ban lãnh đạo doanh nghiệp; có những bất đồng và mâu thuẫn trong ban lãnh đạo, tranh chấp trong quá trình quản lý. Phan loại nợ trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mai Sau khi đã được nhận biết, nợ xấu sẽ được phân loại vào các nhóm nợ có mức độ rủi ro khác nhau.
Các quốc gia, các tổ chức tài chính quốc tế khác nhau đều có cách phân loại nợ xấu của riêng mình. Theo cách phân loại nợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế, nợ của NHTM bao gồm các nhóm sau đây: [17, tr. 41] 8 - Nợ đủ tiêu chuẩn: Khoản vay có khả năng được thanh toán. - Nợ cần chú ý đặc biệt: Các khoản cho vay với doanh nghiệp mà có thé có khó khăn trong việc thu hồi.
- Nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản cho vay mà tiền lãi hoặc gốc thanh toán đã quá hạn 3 tháng. Ngân hàng sẽ trích lập tỷ lệ 10% dự phòng cho các khoản vay bị xếp vào loại đưới chuẩn. - Nợ nghi ngờ: Là những khoản vay có nghi ngờ trong việc thanh toán và được xác định là sẽ gây ton thất. Ngân hàng trích ty lệ dự phòng là 50% cho các khoản cho vay có nghĩ ngờ.
- Nợ có khả năng mất vốn: Các khoản nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi được áp dụng các biện pháp bảo vệ theo luật phá sản. Các ngân hàng sẽ trích tỷ lệ dự phòng là 100% cho các khoản vay này. Với cách phân loại nợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế, nợ xấu là các khoản nợ thuộc 3 nhóm cuối và chúng sẽ được đánh giá theo mức độ khó khăn khi thu hồi. Bảng 1: Phân loại nợ theo Ngân hang thế giới (WB) Khoản vay Những đặc thù và thời hạn Đạt tiêu chuẩn - Không nghi ngờ về thời gian trả nợ.
- Tài sản được bảo đảm hoàn toàn bằng tiền hoặc tương đương. - Quá hạn dưới 90 ngày. Can theo dõi - Những diém yếu tiêm tàng có thê ảnh hưởng tới khả năng trả ng. - Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn.
- Quá hạn dưới 90 ngày. Dưới tiêu chuẩn | - Các nhược điêm rõ rệt về tín dụng có thê ảnh hưởng tới khả năng trả nợ. - Các khoản nợ đã được thỏa thuận lại; - Quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Dang ngờ - Không chan thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điêu kiện kiện hiện tại; - Có khả năng thất thoát; - Quá hạn từ 180 đến 360 ngày.
Mat von - Các khoản vay không thu hôi được; - Quán hạn hơn 360 ngày.