Chương 1 sẽ trình bày các van dé: tong quan về ngành xây dựng, lý do hình thành dé tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của dé tài và bố cục của luận văn.1 Tong quan về ngành xây dựng Cùng với các ngành kinh tế khác trong năm 2010, ngành Xây dựng phải đối diện với những khó khăn chung như bién động giá, mặt bang lãi suất ngân hang khá cao. ảnh hưởng đáng kế đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành. Chủ động nhận diện những khó khăn và thách thức, ngành đã có những giải pháp đối phó nhằm duy trì mức tăng trưởng bên vững. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tổng giá trị sản xuất kinh doanh toàn ngành trong năm 2010 đạt trên 144,701 tỉ đồng.
Toàn ngành đã triển khai đầu tư khoảng 593 dự án với tong khối lượng dau tư 41,004 tỉ đồng. (Nguồn: http:/'www.vn/2MNU=I I 12&Chitiet=1 1283&Style=l). Năm 2010, ngành xây dựng Việt Nam ghi nhận mức đỉnh về thu hút vốn đầu từ nước ngoài (FDI) vào ngành, với số vốn đăng ký lên đến 1.7 tỷ USD, gap 44 lần so với 2009, được thé hiện qua Hình 1. Triệu USD Von FDI đăng ký vào ngành xay đựng qua các năm 1,saa 160 - [40 _ + 120 - 100 - $0 - 60 46 - 20 mums So dự an cap mới Von đăng ký mới (triệu USD) Source: MPI&GSO Hình 1.1: Biéu đồ thé hiện vốn FDI đăng ký vào ngành xây đựng qua các năm Nguôn: MPI & GSO năm 2010 Bảng 1.1: Top 5 ngành thu hút FDI lớn nhất năm 2010 STT Ngành án | kýcấp mới | và S | NY Sep ha cấp mới | (triệu USD) thêm (triệu | và USD) tăng them (triệu USD) KD bất động san 27 6.842 7 2 | CN chế biến, chế tạo 385 4.0812 Sản xuất, phân phối 3 điện, khí, nước, d.7346 5 | Vận tải kho bãi l6 824.1 55 879,1 Nguồn : MPI & GSO năm 2010.
Chưa bàn đến chất lượng vốn FDI đăng ký vào các ngành, con số 1,7 ty USD có thé xem là một chỉ báo cho sự phát triển của ngành xây dựng Việt Nam trong năm 2011.2 Ly do hinh thanh dé tai Với những cơ hội luôn di kèm với thách thức. Những khó khăn ma ngành công nghiệp xây dựng Việt Nam phải đương đầu không hề nhỏ. Theo Mac Callum (2000), ngành xây dựng được nhận xét như Một ngành kinh doanh hấp dẫn với nhiều rủi ro, đòi hỏi các bên tham gia phải nỗ lực va quyết tâm cao. Việc hoan thành một dự án đúng theo tiễn độ và chi phí kế hoạch thật khó khăn va đáng ngạc nhiên .C (2005) cho rằng trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp xây dựng được miêu tả không có tính cạnh tranh và hiệu quả khi so sánh với các ngành công nghiệp khác.
Các dự án xây dựng vượt ngân sách. vượt thời gian thé hiện qua khối lượng công việc làm lại, sự sai lệch và mâu thuân xảy ra thường xuyên. Chi phi, chất lượng và tiến độ là các tiêu chí hàng đầu được đặt ra khi đánh giá sự thành công của bất kỳ dự án nào kế cả dự án xây dựng. Hiện nay, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng chậm trễ, vượt chi phí va không đảm bảo chất lượng công trình có thé do nhiều nguyên nhân khác nhau: công tác giải phóng mặt bang; triển khai kế hoạch của các Bộ, ngành, địa phương chậm; chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư kém; sai sót trong giai đoạn thiết kế năng lực của Chủ đầu tư và của nhà thầu yếu kém; cơ chế chính sách quản lý dau tư và xây dựng chồng chéo; công tác dau thầu chậm; các Chủ đầu tư chưa khẩn trương thực hiện nghiệm thu khối lượng hoàn thành đủ điều kiện thanh toán.
(Nguồn: http://vietbao.vn/Kinh-te/Bo-truong-GT VT-nhan-trach-nhiem-ve-yeu-kem-trong-cong- tac-quan-ly/651 1 1784/87/). Ở Việt Nam, theo số liệu chưa day đủ của Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, hàng năm có khoảng 0,28 — 0,56% công trình bị sự cố thì với hàng vạn công trình được triển khai cũng đã có hàng trăm công trình bị sự cố. Nguyên nhân do khảo sát, thiết kế, không có chứng chỉ khảo sát, thiết kế hoặc vượt cấp chứng chỉ, chất lượng khảo sát không đạt yêu cầu, tính toán thiết kế sai, không phù hợp, bó trí lựa chon, địa điểm, lựa chon phương án quy trình công nghệ, quy trình sử dụng không hợp lý phải b6 sung, sửa đối, thay thế. (Nguồn: http://www.vn/tinchitiet/59/18084/chu-dong-ngan-ngua-su-co-cong-trinh- xay-dung/).
Theo đánh giá của Tổng hội xây dựng Việt Nam thất thoát lớn nhất xuất hiện ngay trong giai đoạn lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế, chiếm trên 70% tong số thất thoát, lãng phí. Tình trạng thất thoát trong các công trình xây dựng hiện nay không chỉ là những hành vi rút ruột, ăn bớt, khai khống mà xuất hiện ngay từ khâu đâu tiên của một vòng đời dự án là lập dự án đầu tư, khảo sát, thiết kế. Theo ông Nguyễn Cảnh Chất — Chủ tịch hiệp hội tư vẫn xây dựng Việt Nam — có đến 70% đến 80% sai sót xuất phát từ khâu chuẩn bị dự án, khảo sát thiết kế (Nguôn: Báo xdy dựng số 58 ngày 21/07/2005, bài “Tìm nguyên nhân suy giảm chất lượng công trinh’’) Theo báo cáo tổng kết công tác quan ly chất lượng công trình của Bộ Xây Dựng năm 2006 chi ra rằng trong số 18 công trình xây dựng dang bị sự cô hoặc có chất lượng không đảm bảo phải báo cáo về cho Bộ Xây Dựng thì nguyên nhân do khảo sát và thiết kế chiếm đến 60%, còn 40% đo thi công. (Nguôn: http://dtb.vn/forum/Default.aspx2ø=posts&t=1l513) Theo Kartam NA, Kartam SA (2001), trong một nghiên cứu ở Kuwait cho răng lỗi thiết kế là một rủi ro lớn làm cho các dự án xây dựng chậm trễ.
Kết quả nghiên cứu tương tự cũng thu được trong các nghiên cứu tại Nhật Bản theo Sawada M (2000), tai Mỹ theo Kangari R (1995) và tại Hong K6ng theo Ahmed SM (1999). Nghiên cứu của Kirby JG (1998) đã chỉ ra 3 nguyên nhân chính gây ra sự thay doi trong hợp đồng đó chính là sai sót trong thiết kế, yêu cầu của Chủ dau tư thay đối, không hiểu biết về khu vực xây dựng. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 56% thay đổi trong hợp đồng được cho là sai sót trong thiết kế. Nghiên cứu của Diekmann JE, Nelson MC (1985) cho rang sai sót trong thiết kế là một nguyên nhân chính gây ra mâu thuẫn trong hợp đồng.
Kết quả này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Kirby JG (1998) và Lutz JD et al (1989) là hơn 50% trong số những thay đổi yêu cầu quy vào do thiết kế sai sót. Nghiên cứu bởi Davis, Kent (1989) đã nhận thay rang những lỗi do thiết kế, thay đổi thiết kế, thiếu sót trong thiết kế làm cho chi phí tăng khoảng 10% của toàn bộ chi phí của dự án xây dung, trong khi đó lỗi thi công chỉ chiếm khoảng 2% của toàn bộ chi phí dự án. Nghiên cứu cũng chi răng giai đoạn thiết kế chi tiết là nguồn gốc chủ yếu của việc trễ tiến độ dự án xây dựng. Điều này những lỗi do thiết kế là nguôn gôc của công việc làm lại đôi với Chủ đâu tư và nhà thầu thi công xây dựng.
Theo nghiên cứu của Gerwick, Woolery (1983) cho rằng các tốn thất vẻ lợi nhuận có thé được quan tâm, vì nếu lỗi thiết kế xảy ra trong một dự án xây dựng nó có thể dẫn đến những thay đôi va thay đối như vậy có thé gây ra một ảnh hưởng rất lớn, đó là nhà thầu thi công có thể bị mắt tiền. Nghiên cứu của Abdul-Rahman (1993) và Josephson và hammarlund (1999) thì việc thiết kế lại là một yếu tố quan trọng gây nên việc tốn kém chi phí và kéo dài thời gian thực hiện dự án. Tương tự như vậy là các nghiên cứu của Burati (1992), Chan và Kumaraswamy (1997), Love (2000) đều nhận thấy chỉ phí trực tiếp của việc thiết kế lại chiếm tới 25% giá trị của hợp đồng và các chỉ phí liên quan đến việc thiết kế lại cũng chiếm tới 10% tổng chi phí của dự án. Theo nghiên cứu của Andi S, Minato T (2003), tác động do lỗi thiết kế đến quá trình thực hiện dự án xây dựng là chậm trễ tiến độ, công việc lặp lại, tai nạn lao động.
xung đột các bên, tồn thất lợi nhuận, thay đổi hợp đồng, chi phí tăng. Kết qua nghiên cứu được thể hiện trong Hình 1. = 40 BP Ss 35 & » 30 Š 2 z 23 = 20 as 15 ‘oe 10 a = 5 © ss 0 Rework Delays Cost Changes Accident Disputes Profit Overruns Hình 1.2: Ty lệ thực hiện công việc kém chat lượng gây ra do lỗi thiết kế Nguôn: Andi S, Minato T (2003) Nhu vậy, qua thực trạng ngành xây dung Việt Nam và các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã đưa ra một bằng chứng cụ thể về tác động mạnh mẽ của các sai sót khiếm khuyết trong thiết kế xây dựng hay còn gọi là “việc thiết kế lại” đối với tiến độ, chi phí và chất lượng các dự án xây dựng. Vì vậy việc giảm nhẹ ảnh hưởng của việc thiết kế lại cũng như cải tiễn, nâng cao chất lượng công trình, mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho các dự án là mối quan tâm chính trong lĩnh vực xây dựng hiện nay.
Đây chính là lý do hình thành đề tài Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thiết kế lại trong các dự án thiết kế xây dựng .3 Mục tiêu nghiên cứu Dé tài được nghiên cứu nhăm đạt được các mục tiêu sau: — Phân tích các tiêu chi đo lường việc thiệt kê lại. — Phân tích những yếu tố chính ảnh hưởng đến việc thiết kế lại đối với dự án thiết kế của công ty tư van thiết kế xây dựng trong giai đoạn thiết kế. — Phân tích độ mạnh của môi quan hệ giữa các yêu tô ảnh hưởng và việc thiệt kê lại. — Đê xuât các kiên nghị, biện pháp nhăm giảm việc thiệt kê lại trong các dự án thiết kê.4 Pham vi nghiên cứu Dé tài nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu trong phạm vi: — Thực hiện khảo sát các dự án thiết kế đã và đang thực hiện từ năm 2005 đến nay tại Thành Phố Hồ chí Minh.
— Đôi tượng khảo sát là các Ban giám độc, chủ nhiệm dự án thiết kế, chủ trì thiết kế và các kỹ sư hiện đang làm trong lĩnh vực thiết kế tại các công ty tư van thiết kế xây dựng.5 Y nghĩa thực tiễn của dé tài Dé tài nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn như sau: — Giúp cho công ty tư van thiết kế xây dựng nhận thay các yếu tô ảnh hưởng đến việc thiết kế lại.